Thứ Năm, 12/03/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

13/08/2017 00:00 2956
Điểm: 1/5 (1 đánh giá)
Chúng tôi đã cố gắng thu thập những chứng tích dù là nhỏ nhất như những mảnh răng vỡ, những đầu khớp đã bị chặt để cố giám định thành phần của những con vật có trong hang. Kết quả cho thấy trong hang này đã tồn tại di cốt của các loài thú

Chúng tôi đã cố gắng thu thập những chứng tích dù là nhỏ nhất như những mảnh răng vỡ, những đầu khớp đã bị chặt để cố giám định thành phần của những con vật có trong hang. Kết quả cho thấy trong hang này đã tồn tại di cốt của các loài thú sau: Bộ linh trưởng (Primates) - Họ khỉ (Cercopithecidae) - Khỉ (Macaca sp.). Bộ có guốc ngón chẵn (Artiodactyla) - Họ hươu (Cervidae) - Nai (Rusa sp.), Hươu (Cervus sp.), Hoẵng (Muntiacus sp.); Họ cheo cheo (Tragulidae) - Cheo cheo (Tragulus sp.); Họ lợn (Suidae) - Lợn rừng ( Sus scrofa); Họ trâu bò (Bovidae) - Trâu bò rừng ( Bovinae gen. et sp. Indet.). Bộ ăn thịt (Carnivora) - Họ gấu (Ursidae) - Gấu (Ursus sp.).

Ngoài ra, trong số các di tích động vật có xương sống còn thấy mai ba ba lớn (Tryonycidae), mai rùa cạn (Chelonidae), một vài xương cá và một đốt sống có thể của loài thú biển nhỏ.

Qua các di cốt động vật nói trên, ta thấy thành phần thú không đa dạng như trong các di chỉ khảo cổ khác ở sâu trong đất liền. Chủ yếu là hươu nai và trâu bò. Lợn là loài vật rất phổ biến ở nhiều nơi nhưng trong di tích này chỉ có hai mẫu vật. Ngoài các trai sò ốc nước ngọt, xương cá ở đây cũng rất hiếm hoi.

- Đối với số vỏ nhuyễn thể, có thể thấy một số điểm đáng chú ý như sau:

+ Có thể nói trong số vỏ nhuyễn thể tìm được thì nhuyễn thể nước ngọt chiếm tới 95 - 97%, số nhuyễn thể biển chỉ có 3 - 5%. Trong số nhuyễn thể nước ngọt thì ốc suối (Melania) lại chiếm ưu thế hơn ốc núi (Cyclophorus), cụ thể là ốc suối chiếm tới 70 - 75%, trong khi ốc núi chỉ là 20 - 22%.

+ Một điểm đáng lưu ý nữa là số nhuyễn thể nước mặn tuy ít nhưng lại khá đa dạng. Qua thống kê của chúng tôi có khoảng trên dưới 20 loại nhuyễn thể nước mặn ở đây, ví dụ như: hà (ống, râu, ma, cháy), ốc (vôi, gai, đẽ, lợn), sò (đá, lông), thưng, tu hài, don, mỏm quạ, vênh vênh...

- Về di vật khảo cổ gồm đồ đá, đồ xương và đồ gốm.

Đồ đá: có 317 hiện vật, làm từ đá vôi, đá cuội và thạch nhũ, trong đó đá vôi là chủ yếu.

Về mặt loại hình, đồ đá Hang Tiên Ông có các loại như công cụ chặt - đập, công cụ cắt - nạo, mũi nhọn, rìu, bàn mài, hòn ghè, hòn đập… với các hình dáng như hình móng ngựa, hình đĩa, hình múi bưởi, hình 1/2 múi bưởi… Cũng cần phải nói rằng, sự phân loại này chỉ mang tính tương đối, bởi sự phân hoá chức năng của công cụ giai đoạn này chưa thật sâu sắc. Mặt khác, phần lớn công cụ ở đây là đá vôi, lại bị phong hoá mạnh, nên rất khó nhận biết dấu vết chế tác, sử dụng.

Về kĩ thuật: Qua nghiên cứu các công cụ đá, có thể nhận thấy cư dân nguyên thuỷ ở đây đã sử dụng các kĩ thuật như: ghè một mặt và hai mặt, trong đó ghè một mặt là chủ đạo, kết hợp với kĩ thuật chặt bẻ, có dấu vết của kĩ thuật mài. Xin lưu ý rằng, các thuật ngữ chúng tôi sử dụng để mô tả bộ công cụ đá ở đây cần được hiểu một cách tương đối, vì đó là các thuật ngữ mô tả bộ công cụ cuội truyền thống, trong khi chất liệu đá Hang Tiên Ông là đá vôi.

5

6

Công cụ đá Hang Tiên Ông.

Về chất liệu: Như trên đã nói, nguyên liệu chủ yếu để chế tác công cụ của cư dân ở đây là đá vôi. Trong tổng số 317 hiện vật, có tới 199 tiêu bản làm bằng đá vôi, chiếm 62,7%; hiện vật đá cuội có 97 tiêu bản, chiếm 30,5%; hiện vật thạch nhũ có 20 tiêu bản, chiếm 6,49%; có 1 hiện vật làm bằng vỏ nhuyễn thể, chiếm 0,31%. Nếu chỉ tính riêng trong bộ công cụ chính là chặt - đập và cắt - nạo, sẽ thấy đá vôi chiếm ưu thế gần như tuyệt đối: 83%. Tuy vậy, việc sử dụng cả cuội, thạch nhũ cũng như vỏ nhuyễn thể để chế tác công cụ đã cho thấy tính năng động trong thế ứng xử với môi trường của cư dân Hang Tiên Ông.

Đồ xương: Bên cạnh khối lượng xương răng đã trình bày ở phần trên, chúng tôi còn tìm thấy 2 công cụ mũi nhọn. Một công cụ có hình gần lá tre, màu vàng, tiết diện ngang hình chữ D, 1 đầu được mài nhọn, phần dưới thân hơi phình ra rồi cũng được vuốt nhọn lại ở đuôi, dài khoảng 5,0 cm. Công cụ thứ hai hình chữ nhật dài, 2 đầu có vết chế tác, nhưng chỉ có một đầu được vát nhọn, dài khoảng 7,4 cm.

Đồ gốm: có 163 mảnh, chủ yếu là gốm thô, văn thừng kết hợp ấn lõm. Những mảnh gốm này tìm thấy ở hố I và hố II, rải rác trong tất cả các lớp đào. Liệu những mảnh gốm này có thuộc cùng một niên đại với bộ công cụ hay không là điều mà những người khai quật trăn trở, bởi lẽ địa tầng chính của hố I và II là lớp ốc không kết khối, do đó, rất có thể có hiện tượng gốm lớp trên lọt xuống lớp dưới. Dù sao, chúng tôi vẫn có cảm giác rằng, những mảnh gốm này có nét gần gũi với gốm Cái Bèo.

7

Công cụ mũi nhọn làm bằng xương.

8

Một số mảnh gốm thu được trong tầng văn hóa.

Hang Tiên Ông - những giá trị tự nhiên và nhân văn độc đáo

Như vậy là, từ những kết quả nghiên cứu đầu tiên của Andersson vào năm 1938 cho đến cuộc khai quật năm 2007 này, những tư liệu thu được ở Hang Tiên Ông đã cung cấp những thông tin vô cùng quan trọng trong việc nhận thức về lịch sử địa chất cũng như lịch sử xã hội khu vực Hạ Long nói riêng và Bắc Bộ nói chung.

- Trước hết, việc có một khối lượng lớn trầm tích nhuyễn thể nước ngọt trong hang khẳng định rằng, khi đó khu vực này là lục địa. Tuy vậy, sự có mặt của nhuyễn thể nước mặn, dù ít, cũng cho thấy vào giai đoạn muộn cư dân ở đây đã có những tiếp xúc với biển. Đây có thể chính là tiền đề cho các văn hoá biển như Cái Bèo hay Hạ Long ở giai đoạn sau.

- Hiện tượng ốc suối (Melania) chiếm tỉ lệ cao trong trong vỏ nhuyễn thể đã cho ta biết phần nào về cảnh quan môi trường cổ. Ta biết rằng, ốc Melania là loài sống trong môi trường nước chảy (lưu thuỷ), ví dụ như suối, và trong dòng chảy phải có hốc, vực, chứ không phải sông - phù sa đồng bằng. Không hề thấy loại ốc này sống trong môi trường nước tĩnh (ao hay đầm). Vì thế, có thể hình dung môi trường cổ quanh hòn Cái Tai khi đó là những suối nhỏ chảy len lỏi giữa các núi đá vôi, không có những ô nước trũng, tức là dạng đồng bằng trước núi.

- Hiện tượng những khối thạch nhũ và đá vôi rơi từ trần hang và vách đá xuống hang là biểu hiện của một thời kì khô lạnh. Những kết quả phân tích bào tử phấn hoa cho thấy thực vật ở đây chủ yếu là loài thân thảo (các loài cây bụi và thảm cỏ), rất ít thực vật thân gỗ. Điều này cũng phản ánh cho một khí hậu khô. Bên cạnh đó, dù không tìm thấy phấn hoa của thực vật ngập mặn, nhưng khi soi mẫu lại phát hiện nhiều cặn vỏ sò và san hô, cho thấy di tích có chịu sự ảnh hưởng của môi trường biển. Như vậy, những tư liệu này đã cho thấy một điều lí thú rằng, đặc điểm cổ khí hậu lúc đó là khô lạnh, và hiện tượng này kéo dài đến gần thời điểm kết thúc hoạt động sinh sống của cư dân nguyên thuỷ, khi mà biển đã tiến đến gần. Điều này trái hẳn với nhận định thông thường của chúng ta rằng, khí hậu cuối Cánh tân đầu Toàn tân là nóng ẩm. Phải chăng có một giai đoạn khô lạnh ở đầu thế Toàn tân trên toàn Bắc Bộ, hay đó chỉ là biểu hiện vi khí hậu của tiểu vùng này mà thôi(1).

- Những di tích xương răng động vật mang những đặc trưng của quần động vật Hoà Bình. Theo TS. Vũ Thế Long, người tiến hành giám định số xương răng này, thì đây là những di tích rất đặc biệt và không có nhiều trên toàn bộ trên 3000 đảo đá của Vịnh Hạ Long. Những di tích xương thú này được người xưa đem về hang sử dụng với nhiều mục đích. Theo chúng tôi, những xương thú này được chế tác để làm công cụ như các mũi nhọn, mũi tên hoặc những công cụ tinh xảo khác. Việc đập vỡ vụn nhiều xương lớn và các xương rắn chắc là minh chứng cho hiện tương này. Nếu chỉ đập ra để hút tủy thì người ta không cần phải đập nhỏ vụn đến thế và cũng không cần phải đập những xương rất rắn chắc như xương ngón chân hoặc xương sên của con vật. Chắc hẳn người ta cần những xương rắn này để làm công cụ.

Rất có thể việc hơ xương thú trên lửa cũng là một trong những kĩ thuật chế tác xương thú làm công cụ trong thời kì này vì có nhiều xương còn vết lửa nhưng không bị cháy hoàn toàn mà chỉ được hơ cho đến khi đổi màu sang màu nâu đậm.

Như ta đã biết trong hệ công cụ đá ở đây, có cả công cụ làm từ đá vôi và những loại cuội dùng chế tác công chất lượng không cao lắm. Điều đó chứng tỏ xương thú và vỏ nhuyễn thể là hai nguồn nguyên liệu bổ sung rất cần thiết cho nhóm cư dân sống ở đây.

Từ thành phần động vật đã biết, ta có thể hình dung về môi trường và cuộc sống của cư dân thời đó có nhiều điểm rất khác biệt với môi trường hiện tại. Lúc đó hang này có độ cao hơn rất nhiều so với độ cao hiện tại. Phần đảo nổi trên mặt nước hiện tại là một phần đỉnh núi thuở xưa và đường bờ biển lúc ấy còn rất xa với bờ biển hiện tại.

- Bộ công cụ đá Hang Tiên Ông, xét về loại hình và kĩ thuật, mang dáng dấp của văn hoá Hoà Bình. Tác giả của Hạ Long thời tiền sử có những lí do riêng khi phân lập ra văn hoá khảo cổ Soi Nhụ và xếp Hang Tiên Ông vào trong đó, nhưng theo chúng tôi, những đặc trưng mà các tác giả nêu ra chưa thật thuyết phục, chưa đủ để tách nhóm Soi Nhụ ra khỏi truyền thống Hoà Bình - Bắc Sơn. Qua đợt khai quật này, chúng tôi cho rằng Hang Tiên Ông là một di tích Hoà Bình, tất nhiên là trên nền chất liệu không phải cuội, người tiền sử có những ứng xử - kĩ thuật khác đi đôi chút là điều dễ hiểu.

- Về niên đại tuyệt đối của hang, chúng tôi đã gửi 4 mẫu than tới Phòng Thí nghiệm và Xác định niên đại của Viện Khảo cổ học để phân tích, kết quả cụ thể như sau (tuổi đã hiệu chỉnh):

+ Mẫu 07.HTÔ.HI.L2: 7.600 - 5.900BC.

+ Mẫu 07.HTÔ.HII.ôb3: 8.300 - 6.200BC.

+ Mẫu 07.HTÔ.HII.L5: 8.800 - 6.500BC.

+ Mẫu 07.HTÔ.HII.L5: 8.300 - 6.800BC.

Như vậy, qua tổng thể di tích và di vật cũng như tham khảo kết quả C14, chúng tôi cho rằng niên đại của di tích ở vào khoảng 10.000 - 8.000 năm BP, thuộc giai đoạn Hoà Bình - Bắc Sơn.

Để kiểm tra tính đúng đắn của nhận xét trên, chúng tôi cũng tham khảo các tài liệu về biển tiến biển thoái ở khu vực vịnh Bắc Bộ. Qua đó có thể thấy, tuy còn sai khác trong một số vấn đề, nhưng hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng, vào khoảng cuối Pleistocene - đầu Holocene, mực nước biển chỉ dừng ở đường đẳng sâu 30m so với mực nước hiện tại. Đến khoảng 8.000 năm trước, đường bờ biển mới tiến sát đến rìa ngoài vịnh Lan Hạ, nam vịnh Hạ Long và phần ngoài cửa sông Bạch Đằng (Douglas D. Anderson 1990; Dunn F.L & Dunn D.F 1977; Robert B. Fox 1970; Nguyễn Đức Tâm 2003; Nguyễn Khắc Sử 2005a; Nguyễn Ngọc, Đào Thị Miên 2005; Phạm Đình Thọ 1997; Trần Đức Thạnh 2003). Như vậy, tư liệu về mực nước biển cũng thống nhất với nhận định của chúng tôi.

- Về vấn đề tên gọi, trong thời gian khai quật, để phục vụ công tác nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo một số tài liệu về thời tiền sử ở khu vực Hạ Long, trong đó có cuốn chuyên khảo Hạ Long thời tiền sử của Hà Hữu Nga và Nguyễn Văn Hảo. Khi đọc cuốn sách, chúng tôi thấy có một điểm đáng lưu ý là trong phần mô tả về hang Tiên Ông, các tác giả cho biết rằng “hang này nằm trên một hòn đảo đá mà theo hình vẽ của J.G. Andersson thì rất giống với cái hang mà ông gọi là Grotte du Ciseau - Hang Đục” (Hà Hữu Nga, Nguyễn Văn Hảo 2002: 73). Mặt khác, xem phần khảo tả của Andersson về Hang Đục (J.G. Andersson 1939: 95 - 97) và của Hà Hữu Nga về Hang Tiên Ông cũng thấy có nhiều điểm chung, đặc biệt là sự có mặt của trầm tích nhuyễn thể nước ngọt khổng lồ hàng trăm m3. Từ đó, chúng tôi bắt đầu nảy sinh nghi ngờ rằng, phải chăng hai hang là một (?). Khi chúng tôi hoàn thành bản vẽ bình diện và trắc diện Hang Tiên Ông rồi đem so sánh với bản vẽ Hang Đục của Andersson năm 1938 thì hoài nghi này dần được khẳng định, bởi 2 bản vẽ quá giống nhau, có khác chăng là bản vẽ của chúng tôi chi tiết hơn mà thôi. Chúng tôi lại so sánh cả bản ảnh chụp Hang Tiên Ông năm 2007 với ảnh chụp Hang Đục năm 1938 thì thấy rằng đây chỉ có thể là ảnh của cùng một địa điểm. Cuối cùng, để cho chắc chắn tuyệt đối, chúng tôi đã kiểm tra bản đồ quân sự Việt Nam do người Pháp vẽ năm 1937 thì thấy rõ ràng rằng, khu vực đảo Hang Trai hiện nay được ghi trên bản đồ là đảo Uy - ni - ông (Union) hay Thống Nhất, còn hòn Cái Tai được ghi là hòn Grottes, tức đảo (các) Hang.

Vậy là, qua các mô tả của Andersson, Hà Hữu Nga và Nguyễn Văn Hảo, qua so sánh bản vẽ, bản ảnh, bản đồ, chúng tôi khẳng định chắc chắn rằng, Hang Đục và Hang Tiên Ông chỉ là một.

- Qua những gì vừa trình bày, có thể nói Hang Tiên Ông là một di tích đặc biệt quan trọng, với những tư liệu vật chất phong phú và độc đáo, có giá trị khoa học cao, có khả năng đóng góp vào việc nghiên cứu lịch sử tự nhiên cũng như xã hội của khu vực vịnh Hạ Long nói riêng và Việt Nam nói chung. Do đó, để bảo tồn và phát huy giá trị di tích, cần phải có các biện pháp mang tính đồng bộ trên các mặt khảo cổ, môi trường, văn hoá, bảo tàng và du lịch, phù hợp với chiến lược phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay.

Trương Đắc Chiến

Tài liệu tham khảo:

Andersson J.G 1939. Archaeological Reseach in the Fai Si Long Archipelago, Tonkin. The Museum of Far Eastern Antiquities Stockholm - Bulletin No 11, Stockholm, p. 75 - 108.

Douglas D. Anderson 1990. Lang Rongrien Rockshelter: A Pleistocene - early Holocene archaeological site from Krabi, Southwestern Thailand. The University Museum, University of Pennsylvania publishes, Philadenphia.

Dunn F.L & Dunn D.F 1977. Maritime adaptations and exploitation of marine resources in Sundaic Southeast Asian prehistory. Modern Quaternary Research in Southeast Asia, Volume 3. A.A. Balkema, Rotterdam.

Đỗ Văn Ninh 2005. Báo cáo khai quật di chỉ hang Soi Nhụ (Quảng Ninh) năm 1969. Trong Khảo cổ học vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam, tr. 63 - 68.

Hà Hữu Nga 1997. Báo cáo điền dã khảo cổ học Quảng Ninh năm 1997. Tư liệu Viện Khảo cổ học.

Hà Hữu Nga 2001. Văn hoá Bắc Sơn. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Hà Hữu Nga, Nguyễn Văn Hảo 2002. Hạ Long thời tiền sử. Ban quản lý vịnh Hạ Long xuất bản, Hạ Long.

Hoàng Xuân Chinh (chủ biên) 1989. Văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam. Viện Khảo cổ học xuất bản, Hà Nội.

Nguyễn Đức Tâm 2003. Bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000 với khảo cổ học. Trong Khảo cổ học, số 6, tr. 3 - 25.

Nguyễn Khắc Sử 2005a. Văn hoá Hạ Long trong nền cảnh tiền - sơ sử Việt Nam. Trong Khảo cổ học, số 1, tr. 3 - 26.

Nguyễn Khắc Sử (chủ biên) 2005b. Khảo cổ học vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Ngọc, Đào Thị Miên 2005. Sự dao động mực nước biển với khảo cổ học vùng duyên hải Đông Bắc Việt Nam. Trong Khảo cổ học, số 3, tr. 27 - 36.

Phạm Đình Thọ 1997. Dao động mực nước biển ở khu vực văn hóa Hạ Long và ý nghĩa khảo cổ học của nó. Trong Khảo cổ học, số 2, tr. 3 - 10.

Robert B. Fox 1970. The Tabon Caves - Archaeological explorations and excavations on Palawan island, Philippines, Number 1. The National Museum publishes, Manila.

Trần Đức Thạnh 2003. Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long. Ban quản lý vịnh Hạ Long xuất bản, Hạ Long.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Hội thảo khoa học “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”

Hội thảo khoa học “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”

  • 20/05/2019 14:45
  • 5063

Nhân dịp kỷ niệm này Quốc tế Bảo tàng 18/5/2019, sáng ngày 16 tháng 5 năm 2019, Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”.

Bài viết khác

Khám phá hang Tiên Ông: hành trình tìm về Hạ Long thời Tiền sử (Phần 1)

Khám phá hang Tiên Ông: hành trình tìm về Hạ Long thời Tiền sử (Phần 1)

  • 09/08/2017 00:00
  • 3993

Là một trong những hang động đẹp trên vịnh Hạ Long - di sản thế giới UNESCO, biểu tượng của du lịch Việt Nam, tuy nhiên hang Tiên Ông được đưa vào khai thác phục vụ du lịch khá muộn. Sở dĩ như vậy là vì, đây không chỉ là một hang động có những vẻ đẹp tự nhiên thuần túy, mà nó còn là một trong hang động hiếm hoi trên vịnh Hạ Long có dấu vết cư trú của con người từ rất xa xưa.