1. Giới thiệu chung
Di tích thành cổ Luy Lâu thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là đô thị vào loại sớm và lớn bậc nhất Bắc Việt Nam, với số lượng và loại hình di tích, di vật phong phú và đa dạng nhất so với các khu di tích khác trong giai đoạn Mười thế kỉ đầu Công nguyên. Trong suốt quá trình tồn tại của mình, Luy Lâu không chỉ là trung tâm chính trị, kinh tế mà còn là trung tâm văn hóa và tôn giáo, với sự du nhập và phát triển của Phật giáo, hay sự truyền bá chữ Hán và Nho giáo.

Các nhà khoa học tham dự báo cáo sơ bộ kết quả khai quật di tích Luy Lâu.
Lịch sử nghiên cứu Luy Lâu về cơ bản có 3 giai đoạn, góp phần làm rõ nhận thức của chúng ta về tòa thành cổ nổi tiếng này:
- Thời phong kiến: Cái tên Luy Lâu xuất hiện từ khá sớm trong các thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam, như Tiền Hán thư - Địa lý chí, Tấn thư - Địa lý chí, Thủy kinh chú, Tam Quốc chí, hay Việt sử lược, Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Nam nhất thống chí... Tuy còn nhiều chỗ mơ hồ, nhầm lẫn, nhưng qua các biên chép của các sử gia phong kiến Việt Nam và Trung Quốc, có thể thấy Luy Lâu chính là trị sở của nhà Hán ở Giao Chỉ và là trung tâm Phật giáo cổ xưa thời Bắc thuộc.
- Thời Pháp thuộc: Đến thời Pháp thuộc, Luy Lâu tiếp tục được các học giả trong và ngoài nước biên chép, tìm hiểu, trong đó đáng kể nhất là công trình "Bắc kỳ thời cổ đại" in trên tạp chí Viễn Đông Bác Cổ năm 1937 của Madrolle. Qua đối chiếu, khảo cứu các nguồn thư tịch cổ, kết hợp với việc sử dụng tài liệu điều tra khảo sát các di tích do công sứ Bắc Ninh là Wintrchert cung cấp, Madrolle cho rằng thủ phủ Luy Lâu thời Hán đóng tại vị trí làng Lũng Khê và di tích hiện còn chính là thành Luy Lâu. Tuy vẫn còn nhiều chỗ chưa sáng tỏ, nhưng đây chính là chỉ dẫn quan trọng cho những cuộc nghiên cứu, khảo sát Luy Lâu về sau này.
- Từ 1954 đến nay: Luy Lâu tiếp tục được biên chép, đề cập trong các công trình thông sử hoặc địa lý, văn hóa, tôn giáo của Việt Nam. Tuy nhiên, phải đến năm 1968 Luy Lâu mới thực sự được nghiên cứu theo phương pháp khảo cổ học. Cuối năm 1968, Viện Khảo cổ học đã tiến hành một đợt điều tra, khảo sát khu di tích quan trọng này. Các di tích thành cổ Luy Lâu, di chỉ cư trú, mộ táng, các kiến trúc tôn giáo... đã được tìm hiểu bước đầu, đem lại những nhận thức khái quát về Luy Lâu. Trên cơ sở cuộc khảo sát năm 1968, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật Luy Lâu vào cuối năm 1969. Tính đến nay, di tích thành cổ Luy Lâu đã được khảo sát nhiều lần, khai quật khảo cổ học tám lần vào các năm 1969, 1986, 1999, 2000, 2001 và 2014 (3 cuộc), do các cơ quan khác nhau thực hiện (Viện Khảo cổ học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia). Kết quả nghiên cứu cho thấy thành Luy Lâu có quy mô lớn, cấu trúc kiên cố, lợi hại. Diễn biến các lớp đất đắp lũy thành, di tích mộ táng, di chỉ cư trú, dấu vết lò đúc đồng..., đã cho phép xác định niên đại của thành Luy Lâu được khởi dựng từ đầu công nguyên và liên tục được sử dụng, sửa đắp trong nhiều thế kỉ sau đó, đến tận thế kỉ X (Trần Đình Luyện 1970; Trần Đình Luyện 1991; Tống Trung Tín, Lê Đình Phụng 1986; Nguyễn Văn Anh 2000; M. Nishimura 2001).
Cùng với việc nghiên cứu nói trên, việc quy hoạch và bảo tồn di tích thành cổ Luy Lâu cũng đã được quan tâm chú ý. Ngay từ năm 1964, thành cổ Luy Lâu đã được công nhận là di tích cấp Quốc gia. Di tích cũng đã được cắm mốc và vẽ bản đồ khoanh vùng vào năm 1999. Tuy nhiên, hiện nay thành cổ Luy Lâu vẫn chưa có bất cứ một quy hoạch tổng thể nào, nhất là đứng trước bối cảnh toàn cầu hóa và nhu cầu bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, có nhiều vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiết. Dưới đây chúng tôi xin nêu ra một vài nội dung chính.
2. Luy Lâu - một phức hợp di tích
Các nguồn tài liệu thư tịch cũng như khảo cổ học cho thấy tính chất phức hợp của di tích Luy Lâu. Đây vừa là một thành lũy quân sự, lại vừa là một trị sở hành chính. Không chỉ vậy, nó còn một trung tâm về tôn giáo và văn hóa. Kết quả khảo cổ học cho thấy ở đây có kiến trúc nhà cửa, dinh thự, thậm chí là kiến trúc lớn thông qua các kích thước vật liệu xây dựng tìm được. Ngoài ra, Luy Lâu còn là một trung tâm đúc đồng thời cổ đại, với những bằng chứng rõ ràng của lò nung, đặc biệt là với việc phát hiện những mảnh khuôn đúc trống đồng. Bên cạnh đó, Luy Lâu còn có tính chất như một khu nghĩa địa của người xưa (khu mộ gạch ở ngoài và rải rác trong thành).
Nội hàm văn hóa của các di tích phát hiện được trong phức hệ di tích Luy Lâu cho thấy vào đầu Công nguyên ở đây đã diễn ra quá trình tích hợp văn hóa Việt - Hán khá rõ nét. Thoạt nhìn, tưởng như văn hóa Hán có tính ưu trội, thể hiện ở việc xây thành đắp lũy kiểu Hán, thể chế nhà nước, chữ viết và một số sản phẩm thủ công. Tuy nhiên chứng cứ khảo cổ học lại cho thấy cơ tầng văn hóa bản địa, mà ở đây là văn hóa Đông Sơn, văn hóa Việt đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiếp biến và sáng tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của thời đại đó. Ví dụ rõ nét nhất là việc tìm thấy những mảnh khuôn đúc trống Đông Sơn ngay trong phạm vi thành Nội Luy Lâu. Điều đó cho thấy khả năng trống Đông Sơn được đúc ngay tại thủ phủ của tầng lớp cai trị, chứng tỏ những viên quan cai trị nhà Hán cũng phải thích ứng với văn hóa bản địa, dùng chính biểu tượng quyền lực của các thủ lĩnh Đông Sơn để thu phục người dân bản xứ. Niên đại muộn màng của lớp đất chứa các mảnh khuôn (thế kỉ 4 sau công nguyên) không làm giảm đi giá trị của nó mà lại chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của văn hóa Việt cổ. Bên cạnh đó, sưu tập hiện vật thu được qua các cuộc khai quật trong thành cũng cho thấy phương thức sống của người dân bản xứ chiếm ưu thế, và đó chính là nguồn lực chủ yếu cho sự tồn tại của Luy Lâu.

Xử lý hố khai quật.
Về mặt niên đại, như trên đã nói, khu di tích này có niên đại trong khoảng 10 thế kỉ đầu công nguyên. Tuy nhiên vì đây là một phức hợp di tích, nên việc bóc tách các lớp văn hóa, các loại hình di tích hay các lớp đắp thành tương ứng với mỗi thời kì trong cả ngàn năm đó còn là câu hỏi chưa có lời giải đáp rõ ràng.
Cùng với đó, nghiên cứu một di tích như Luy Lâu, không chỉ đơn giản là nghiên cứu những gì trong phạm vi hai vòng thành, mà phải đặt nó trong một bối cảnh rộng hơn, trong mối quan hệ hữu cơ với các di tích xung quanh thì mới có một cái nhìn thấu đáo. Đợt hợp tác nghiên cứu mới đây giữa Bảo tàng Lịch sử Quốc gia với Đại học Đông Á (Nhật Bản) đã đem lại nhiều nhận thức mới về di tích. Bằng phương pháp viễn thám, các nhà khảo cổ Nhật Bản đưa ra khả năng Luy Lâu có quy mô lớn hơn hai vòng thành hiện tại, với linh sơn là núi Lạn Kha ở phía bắc và hai khu đô thị vệ tinh là Phà Hồ ở phía đông bắc và Sen Hồ ở phía tây. Cũng không thể đặt Luy Lâu ra khỏi mối quan hệ với khu mộ gạch ở phía đông thành, khu mộ mà được các nhà khảo cổ xếp vào loại lớn nhất miền Bắc Việt Nam.
3. Bảo tồn và phát huy giá trị di tích
3.1. Di tích thành cổ Luy Lâu, cũng như tất cả các di tích lịch sử - văn hóa khác, đều cần được bảo tồn cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất đặt ra là bảo tồn cái gì và bảo tồn như thế nào? Dưới đây chúng tôi xin nêu một vài ý kiến:
- Trước hết cần phải nghiên cứu xây dựng hồ sơ khoa học rõ ràng, đầy đủ, nhằm đánh giá rõ giá trị, tính chất cũng như quy mô của di tích. Cho đến nay, Luy Lâu đã được chính thức khai quật 8 lần, do các cơ quan khác nhau thực hiện. Điểm lại tình hình nghiên cứu Luy Lâu, chúng tôi thấy rằng, bên cạnh những kết quả nhất định đã đạt được, thì vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Đó là tình trạng tản mát tư liệu, nghiên cứu thiếu tính hệ thống và liên tục. Ví dụ như từ đợt nghiên cứu đầu tiên năm 1969, phải gần 20 năm sau mới có đợt nghiên cứu thứ hai (1986). Rồi lại phải hơn 10 năm nữa mới có các đợt nghiên cứu tiếp theo... Mục đích các đợt khai quật cũng khác nhau, vị trí đào cũng khác nhau, và hầu như ít có sự quy hoạch nghiên cứu tổng thể, đặc biệt là đặt Luy Lâu trong mối quan hệ với các di tích xung quanh. Do đó, chúng tôi cho rằng, để nghiên cứu một di tích quan trọng như Luy Lâu, chúng ta cần phải có một chương trình nghiên cứu dài hạn, bài bản và hệ thống. Chương trình nghiên cứu này cần được chia ra thành từng giai đoạn, và xác định rõ mục tiêu thực hiện của mỗi giai đoạn là gì. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể thấu hiểu được Luy Lâu mà không làm lãng phí những trang sách đất đã bị bóc đi ở di tích này qua mỗi lần khai quật. Tóm lại, chúng ta sẽ không thể có được một quy hoạch bảo tồn tốt nếu như không có một hồ sơ di tích được xây dựng rõ ràng, khoa học trên cơ sở các nghiên cứu có tính hệ thống, khoa học.
- Hai là, trên cơ sở của hồ sơ khoa học đầy đủ, cần có một định hướng cụ thể về kế hoạch quản lý và bảo tồn. Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù chính quyền và cơ quan văn hóa quan tâm đến di tích Luy Lâu, nhưng rõ ràng chúng ta đang thiếu một đội ngũ cán bộ chuyên môn và các phương pháp quản lý, bảo tồn phù hợp. Một di tích cấp quốc gia như Luy Lâu nhưng lại không có một Ban quản lý riêng mà vẫn thuộc Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh, còn về mặt hành chính thì thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành. Tình trạng đó dẫn đến việc di tích bị xâm hại rất nhiều bởi các hoạt động dân sinh như đào ao thả cá, lấy đất đóng gạch, xây mộ hoặc bởi nạn dò tìm cổ vật, nhưng gần như không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Để khắc phục tình trạng này, Cục Di sản Văn hóa, Sở VHTTDL Bắc Ninh cũng như chính quyền các cấp cần phải có kế hoạch khoanh vùng bảo vệ, nghiêm cấm các hoạt động xâm hại như trên diễn ra tại di tích. Bên cạnh đó, cần phải có kế hoạch xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn, lựa chọn vấn đề trọng điểm để đầu tư phát triển các phương pháp quản lý, bảo tồn phù hợp.
- Ba là, vì Luy Lâu là một đô thị cổ, nên việc phát lộ các di tích kiến trúc có khả năng làm bảo tàng tại chỗ là khá lớn, do đó nên có sự cân nhắc kỹ lưỡng trước khi khai quật di tích trên diện rộng. Nên chuẩn bị tốt về cơ sở vật chất, nhân sự, phương pháp và phương tiện bảo tồn trước khi khai quật lớn.

Đầu ngói ống trang trí mặt người.

Mảnh khuôn đúc trống đồng Đông Sơn.

Mũi tên đồng.
3.2. Giá trị của di tích Luy Lâu cần được phát huy nhằm vào những mục tiêu cơ bản sau:
- Phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, trong đó mấu chốt là làm rõ giai đoạn lịch sử Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của dân tộc ta. Để đạt được mục tiêu này, cảnh quan văn hóa ở Luy Lâu cần phải được giữ gìn nguyên vẹn, việc phục dựng các di tích ở đây cần phải làm một cách khoa học, chính xác, không biến dạng, hồ sơ khoa học được cập nhật thường xuyên, các di vật phải được quản lý và bảo quản tốt.
- Phục vụ cho việc giáo dục về lịch sử văn hóa dân tộc cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các thế hệ trẻ. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được một khi di tích được bảo tồn tốt và được hiểu biết đầy đủ, chính xác. Sự hiểu biết đó phải được truyền tải tới công chúng bằng nhiều hình thức hấp dẫn, sinh động và khoa học. Các hình thức thông tin giới thiệu cần xây dựng nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt là thanh thiếu niên.
- Phục vụ cho việc phát triển kinh tế, văn hóa của tỉnh, góp phần nâng cao đời sống của kinh tế, văn hóa của nhân dân trong khu vực di tích. Mục tiêu này chỉ đạt được khi các hoạt động khác đạt hiệu quả cao, di tích tạo ra sức hấp dẫn với khách tham quan. Đạt được mục tiêu này cũng là làm cho di tích được bảo vệ và phát huy tốt hơn.
TS.Nguyễn Văn Đoàn
Trương Đắc Chiến
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Văn Anh 2001. Báo cáo khai quật di chỉ thành nội Luy Lâu năm 2000. Khóa luận tốt nghiệp khóa 42, chuyên ngành khảo cổ học. Tư liệu Khoa Lịch sử.
Nguyễn Giang Hải 1989. Hà Bắc với đỉnh cao Đông Sơn. KCH, số 4, tr. 56 - 65.
Li Tana 2011. Jiaozhi (Giao Chı) in the Han Period Tongking Gulf. In The Tongking Gulf Through History, published by University of Pennsylvania Press, p. 39 - 52.
Trần Đình Luyện 1991. Tìm hiểu vị trí và vai trò của Luy Lâu trong lịch sử Việt Nam thời Bắc thuộc. Luận án PTS Khoa học Lịch sử. Tư liệu Viện Khảo cổ học, TL 187.
Nishimura M. 2001. Báo cáo sơ bộ về khai quật thành cổ Lũng Khê năm 1999 và 2001. Tư liệu do Ban Quản lý Di tích Bắc Ninh cung cấp.
Nishimura Masanari, Nishino Noriko, Phạm Minh Huyền 2002. Báo cáo khai quật tiếp tại thành cổ Lũng Khê năm 2001. NPHMVKCH 2001, tr.545 - 559.
Tống Trung Tín, Lê Đình Phụng 1986. Báo cáo nghiên cứu khu di tích Luy Lâu (Thuận Thành - Hà Bắc) năm 1986. Tư liệu Viện Khảo cổ học, HS 90.
Nguyễn Hữu Toàn 1989. Tuyến đường thủy quan trọng của Luy Lâu: sông Dâu hay sông Đuống? Khảo cổ học, số 4, tr. 95 - 100.
Bùi Minh Trí 1986. Thành Luy Lâu. Luận văn tốt nghiệp khóa 27, chuyên ngành khảo cổ học. Tư liệu Khoa Lịch sử.
Trịnh Cao Tưởng, Tống Trung Tín, Lê Đình Phụng 1989. Luy Lâu mùa khai quật năm 1986. Khảo cổ học, số 4, tr. 74 - 86.
Trần Quốc Vượng 2001. Vị thế Luy Lâu. Nghiên cứu Lịch sử, số 2, tr. 3 - 7.
Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Diệp Đình Hoa 1975. Cơ sở khảo cổ học. Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.