Thứ Ba, 17/02/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

23/10/2015 12:23 5766
Điểm: 3/5 (2 đánh giá)
Nhà Tây Sơn nếu tính từ khi Nguyễn Nhạc khởi binh vào năm 1771 đến khi Cảnh Thịnh bị bắt năm 1802 thì kéo dài 31 năm, có 03 vị vua:

Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Văn Nhạc (1778 – 1793)

Thái Tổ Vũ Hoàng Đế Nguyễn Văn Huệ - Quang Trung (1788 – 1792)

Cảnh Thịnh Hoàng Đế Nguyễn Quang Toản (1792 – 1802)

Nguyễn Huệ - Quang Trung Hoàng đế (1753 - 1792), hay Bắc Bình Vương, là vị Hoàng đế thứ 2 của nhà Tây Sơn, bên cạnh Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Trong lịch sử Việt Nam, Ông là một trong những vị tướng lĩnh tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng quân sự xuất sắc.

Nguyễn Huệ, cùng với Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ (còn được biết đến với tên gọi Anh em nhà Tây Sơn), đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, chấm dứt cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía nam, lật đổ hai tập đoàn này cùng nhà Hậu Lê. Không những đánh thù trong, Nguyễn Huệ còn đánh bại giặc ngoài xâm lược Đại Việt là: Xiêm La ở phía nam và Đại Thanh ở phía bắc. Ông còn là người đề ra nhiều cải cách tiến bộ để xây dựng Đại Việt.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ đã lâm bệnh và qua đời ở tuổi 40. Từ lúc đó, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng, mẫu thuẫn nội bộ, người kế thừa không đủ bản lĩnh lãnh đạo Đại Việt nên không thể chống lại kẻ thù của Tây Sơn. Theo nhận định của một số sử gia thì cuộc đời hoạt động của Nguyễn Huệ đã đóng góp quyết định vào sự nghiệp thống nhất đất nước của triều đại Tây Sơn.

Để tưởng nhớ công đức của ông, tại nhiều địa phương đã có những công trình như: tạc tượng, tượng đài, khu tưởng niệm, bảo tàng, đường phố mang tên ông… Ngoài ra, trong các bảo tàng như: Bảo tàng Quang Trung tại Bình Định… còn lưu giữ những tài liệu, hiện vật về ông.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện nay đang lưu giữ khoảng 14 văn bản có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến Nguyễn Huệ - Quang Trung Hoàng đế. Các văn bản này được Bảo tàng sưu tầm ở nhà thờ họ Nguyễn, thôn Mật Thiết, xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh năm 1961. Văn bản gồm có:

LSb. 21955/Gy-102; ĐT - 3678: Thư của Chính Bình Vương Nguyễn Huệ mời cụ Nguyễn Thiếp giúp việc lần thứ 3 và trách cụ cố chấp (ngày 13/9 năm Thái Đức thứ 10 – 1787). Chất liệu: giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và 03 dấu son nhỏ; kích thước: 51cm x 40,2cm.

LSb. 21956/Gy- 103; ĐT - 3679: Thư của Chính Bình Vương Nguyễn Huệ mời cụ Nguyễn Thiếp tới Phù Thạch hội kiến lần thứ 1 (ngày 18/3 năm Thái Đức 11 – 1788). Chất liệu: giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to; kích thước: 49cm x 40cm.

LSb. 21974/Gy- 121; ĐT - 3677: Chiếu nôm: Bút tích của Chính Bình Vương Nguyễn Huệ gửi Nguyễn Thiếp về việc dời đô về Phù Thạch (đề niên hiệu ngày 1/6 năm Thái Đức thứ 11 – 1788). Chất liệu: giấy dó, chữ mực đỏ; kích thước: 52,5cm x 40,4cm. Văn bản này do ông Hoàng Xuân Hãn ở Pháp gửi về cho đồng chí Hoàng Xuân Hà, Bộ Y tế nhờ chuyển cho Bảo tàng.

LSb. 21957/Gy-104; ĐT - 3680: Chiếu của Chính Bình Vương Nguyễn Huệ mời cụ La Sơn Phu tử - Nguyễn Thiếp nhờ cụ xem và chọn ngày để dựng hành cung ở Nghệ An (ngày 19/6 năm Thái Đức 11 – 1788). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và 04 dấu nhỏ; kích thước: 54,5cm x 34,8cm.

LSb. 21958/Gy- 105; ĐT - 3681: Thư của quan trấn Nghệ An giúp Nguyễn Thiếp xem hướng hành cung (ngày 4/7 năm thái Đức 11 – 1788). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 02 dấu son đỏ; kích thước: 40cm x 29cm.

LSb. 21959/Gy- 106; ĐT - 3682: Chiếu của Chính Bình Vương Nguyễn Huệ giảng về việc bỏ nhà Lê, trách Nguyễn Thiếp không xem đất đóng đô ở Nghệ An và nhờ cụ xem đất đóng đô ở Yên Trường (ngày 3/9 năm Thái Đức thứ 11 – 1788). Chất liệu: giấy dó, chữ mực đen, 01 dấu son to, 04 dấu son nhỏ; kích thước: 53cm x 35,5cm.

LSb. 21960/Gy- 107; ĐT - 3683: Thư của quan trấn Nghệ An mời tới Vĩnh Dinh hội kiến lần thứ 3 với Quang trung (ngày 10/3 năm Quang Trung thứ 2 – 1789). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen có 01 dấu son to và 03 dấu son nhỏ; kích thước: 43,5cm x 34,3cm.

LSb. 21961/Gy- 108; ĐT - 3684: Thư của Trần Văn Kỷ gửi biếu quế (ngày 24/9 năm Quang Trung thứ 2- 1789). Chất liệu: Giấy dó , chữ mực đen, 01 dấu to và 02 dấu nhỏ màu đen; kích thước; 11,2cm x 41,6cm.

LSb. 21962/ Gy- 109; ĐT - 3685: Chiếu của Quang Trung trách cụ Nguyễn Thiếp đã từ bổng lộc (ngày 5/10 năm Quang Trung thứ 2 – 1789. Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và 03 dấu son nhỏ; kích thước 49,5cm x 38,5cm.

LSb. 21963/Gy- 110; ĐT - 3686: Chiếu mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân hội kiến với Quang Trung lần thứ 4 (ngày 10/7 năm Quang Trung thứ 4 - 1791). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và 03 dấu son nhỏ; kích thước: 51,8cm x 42,2cm.

LSb. 21964/Gy- 111; ĐT - 3687: Tờ truyền của triều Đường trách việc dịch Tiểu học sơ lược và dịch Tứ Thư chậm trễ (ngày 14/4 năm Quang Trung thứ 5 – 1792). Kích thước: 43,5cm x 35,4cm.

LSb. 21965/Gy- 112; ĐT - 3688: Chiếu của Quang Trung khen dịch Tiểu học sơ lượcTứ Thư, giục phải dịch Kinh Thư, Thi Dịch (ngày 1/6 năm quang Trung thứ 5 – 1792). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và dấu son nhỏ; kích thước: 50,5cm x 40,2cm.

LSb. 21973/Gy- 120; ĐT - 3672:Lệnh nói về cách thi hành chiếu khuyến nông (ngày 15/5 năm Quang Trung thứ 3 - 1790). Chất liệu: Giấy dó, chữ mực đen, có 01 dấu son to và 11 dấu son nhỏ; kích thước: 49,2cm x 38,5cm. Văn bản này sưu tầm ở đền Vĩnh Ninh, xã Đại Hưng, huyện Thanh Trì, Hà Nội do cụ Lê Thước (Vụ Bảo tồn - Bảo tàng) giao lại cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1962.

Nguyễn Huệ - Quang Trung Hoàng đế đã có những đóng góp vô cùng lớn lao trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Tài năng và công đức của ông còn lưu truyền đến sau này cho hậu thế. Hùng thiêng sông núi mãi mãi còn lưu danh, tượng đài vững trãi của Người sừng sững trên quê hương Bình Định nhắc nhở chúng tôi, những thế hệ sau này luôn học tập, noi theo tấm gương của ông, vị anh hùng của dân tộc đã làm rạng rỡ non sông Việt Nam.

Một số hình ảnh về văn bản Quang Trung:

Đinh Quỳnh Hoa (Phòng QLHV)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 6466

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Ấn triện đồng triều Nguyễn

Ấn triện đồng triều Nguyễn

  • 14/10/2015 14:11
  • 12489

Ấn triện bằng đồng là loại liên quan đến uy quyền. Vua Nguyễn cấp ấn triện cho những bề tôi là để ban ủy quyền cho các bề tôi thay mặt vua cai trị dân. Nghiên cứu về ấn triện bằng đồng thời Nguyễn sẽ hiểu thêm về hệ thống quan chức triều Nguyễn cũng như nhiều vấn đề khác liên quan.