Thứ Năm, 05/03/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

15/09/2015 14:42 6225
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Sự hình thành và phát triển của ấn chương gắn bó chặt chẽ với chế độ xã hội trên mọi lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế… Ấn chương không chỉ mang ý nghĩa đánh dấu tín vật làm bằng chứng mà còn thể hiện rõ chức năng biểu thị quyền lực, pháp chế, tăng thêm tính pháp quyền của giai cấp thống trị.

Sự hình thành và phát triển của ấn chương gắn bó chặt chẽ với chế độ xã hội trên mọi lĩnh vực chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế… Ấn chương không chỉ mang ý nghĩa đánh dấu tín vật làm bằng chứng mà còn thể hiện rõ chức năng biểu thị quyền lực, pháp chế, tăng thêm tính pháp quyền của giai cấp thống trị.

Hiện nay, Bảo tàng Lich sử quốc gia đang lưu giữ một số lượng lớn các loại ấn tín gồm nhiều chất liệu khác nhau như: đồng, vàng, bạc, ngọc, đá quý, ngà, sừng, gỗ,… chúng là nguồn sử liệu thành văn quý giá giúp ta hiểu được phần nào sự hình thành và phát triển mọi mặt của xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ 14 đến thế kỷ 20.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu tới độc giả sưu tập ấn chương tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, được phân loại theo từng nhóm với từng chất liệu khác nhau.

1.Ấn đồng Môn hạ sảnh

Ấn đồng Môn hạ sảnh.

Mặt ấn đồng Môn hạ sảnh.

Số đăng ký: LSb.25266

Cao: 8,5cm

Mặt: 7cm x 7cm

Niên đại: thời Trần, niên hiệu Long Khánh 5, 1377.

Ấn hình vuông, tạo ba cấp. Núm ấn tạo hình chữ nhật, chỏm cong, giống hình bia đá. Hai bên cạnh lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán. Bên phải có 4 chữ, phiên âm: “Môn hạ sảnh ấn” (ấn của sảnh Môn hạ). Bên trái khắc 11 chữ, phiên âm: “Long khánh ngũ niên ngũ nguyệt nhị thập tam nhật tạo” (chế tạo vào ngày 23 tháng 5, năm thứ 5 niên hiệu Long Khánh, đời vua Trần Duệ Tông, 1377). Mặt ấn hình vuông, kích thước 7,3cm x 7,3cm, đúc 4 chữ kiểu triện "Môn hạ sảnh ấn”. Chiếc ấn được phát hiện tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh năm 1962.

Sảnh Môn hạ là cơ quan Trung ương nằm trong bộ ba “Tam sảnh” gồm: sảnh Thượng thư, sảnh Trung thư và sảnh Môn hạ. Đây là ba cơ quan cao nhất của triều đình triều Trần. Sảnh Môn hạ là cơ quan thân cận của nhà Vua, có nhiệm vụ giữ bảo ấn, chuyển lệnh của Vua tới các quan, nhận lời tấu của Vua và các công việc lễ nghi trong cung. Chức quan này ở triều Trần cũng đều do những đại thần tài giỏi đảm nhiệm.

Các đại thần tài giỏi này tuy đã làm ở Sảnh rồi vẫn được kiêm nhiệm các chức vụ khác như Hành khiển Phạm Sư Mạnh năm Đại Trị thứ 5 (1362) được vua Trần Dụ Tông phong thêm chức Tri khu mật viện sự... Cũng có người có công với nhà vua nên cũng được giữ chức Hành khiển như Nguyễn Nhiên năm Thiệu Khánh thứ nhất (1370) được vua Trần Nghệ Tông trả ơn cho làm Hành Khiển tả Tham Tri chính sự.

Chiếc ấn đồng Môn Hạ Sảnh ấn đúc vào năm 1377 được dùng để đóng trên những văn bản hành chính quan trọng của triều đình bắt đầu từ đời Trần Phế Đế.

Cho tới nay, những phát hiện về ấn đồng các triều đại phong kiến Việt Nam trên đất nước ta rất ít, chính vì thế chiếc ấn đồng Môn Hạ Sảnh là chiếc ấn có nội dung rõ ràng nhất, niên đại cụ thể nhất liên quan đến lịch sử hành chính trung ương triều Trần, xứng đáng được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia.

2. Ấn đồngĐề Thống Tướng quân chi ấn

Ấn đồngĐề Thống Tướng quân chi ấn.

Mặt ấnĐề Thống tướng quân chi ấn.

Số đăng ký: LSb.19435

Cao: 6,10m

Mặt: 11,5cm x 11,5cm

Niên đại: thời Lê sơ, niên hiệu Hồng Thuận 6, 1515.

Ấn hình vuông, núm ấn hình nghê quỳ. Bên trái khắc 6 chữ hán: Đề thống tướng quân chi ấn (tức ấn của Đề thống tướng quân). Bên phải ghi năm chế tạo ngày 16 tháng 11 niên hiệu Hồng Thuận lục niên thập nhất nguyệt thập lục nhật tạo, nghĩa là Ấn của Đề thống tướng quân, đúc ngày 16 tháng 11 năm Hông Thuận thứ 5, đời vua Lê Tương Dực (1515). Mặt ấn hình vuông đúc nổi 6 triện Đề thống tướng quân chi ấn. Đây là ấn dấu của Đề thống tướng quân.

Chiếc ấn được phát hiện tại xã Thiệt Thuật, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đây là quả ấn dùng cho các vị quan được lựa chọn cử đến những nơi xung yếu được phong hàm giữ chức Tướng quân hoặc Đại tướng quân để chỉ huy quân đội chiến đấu.

Theo tổ chức quân đội đời Lê Thánh Tông thì lực lượng quân đội phòng trú ở các Đô Ty, ngoài các Đạo thuộc các Vệ, các sở Thiên hộ, Nhất bách Hộ đều là quân chiến đấu khi có chiến tranh, và đó những vị quan võ được phong hàm tam thái, Tam cô, Thái úy hoạc Tả hữu Đô đốc Ngũ phủ sẽ được lựa chọn giữ chức vụ Tướng quân hoặc Đại tướng quân để chỉ huy quân đội chiến đấu. Đôi khi một số võ quan giữ chức vụ tạm thời ở những nơi xung yếu như của trấn, quan, thành, cảng, trại, những chức lớn đều gọi chung là Tổng binh hay Trấn thủ. Có những người còn được phong thêm danh hiệu Tướng quân. Như vậy Tướng quân chỉ là danh từ chung dành cho các tướng lĩnh cao cấp trong chiến đấu hay trong công vụ quan trọng, đặc biệt.

Đề thống tướng quân và Tuần phủ Đô tướng quân có lẽ cũng là danh hiệu phong cho viên tướng lớn có tính chất như khâm sai, khâm phái của lĩnh vực hành chính thời Lê.

3. Ấn đồng Thanh tải tả sở

Ấn đồng Thanh tải tả sở.

Mặt ấn Thanh tải tả sở.

Số đăng ký: LSb.2531

Cao: 9cm

Mặt: 7,7cm x 7,7cm

Niên đại: thời Mạc, niên hiệu Cảnh Lịch 2, 1549.

Ấn có cán cầm hình chuôi vồ, mặt vuông. Bên trái có khắc 6 chữ Hán: Cảnh Lịch nhị niên nguyệt nhật (năm 1549 đời vua Mạc Phúc Nguyên). Bên phải dòng ngoài khắc 6 chữ: Thanh tải tả sở chi ấn, dòng bên khắc 4 chữ Thượng bảo Ty tạo. Mặt ấncó khắc hàng chữ kiểu triện: Thanh tải tả sở chi ấn.

Đây là quả ấn của viên quan Tả sở thanh tra các vùng biên tải thời Mạc.

Thanh tải tả sở là một trong năm sởcủa vệ Tuyên quang thuộc Đô ty Tuyên Quang là lực lượng quân sựđịa phương và vệ Tuyên Quang là một trong các vệ thuộc Đô Ty Tuyên Quang, nhà Mạc lập các vệ trực thuộc các Đô ty cũng giống như nhà Lê. Như vậy Tả sở Thanh tải có thể là một trong các sở của vệ Tuyên Quang do một viên Võ úy cùng Phó Võ úy nào đó chỉ huy.

4. Ấn đồng Bình Nguyên châu ấn

Ấn đồng Bình Nguyên châu ấn.

Mặt ấn Bình Nguyên châu ấn.

Số đăng ký: LSb.2527

Kích thước:

Cao: 8,5cm

Mặt: 6,6cm x 6,6cm

Triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Thịnh Đức 4, 1658.

Ấn có cán hình chuôi vồ, lưng ấn phía bên trái đề 6 chữ Thịnh Đức tứ niên nguyệt nhật. Tức năm Thịnh Đức thứ 4 (năm 1658 đời vua Lê Thần Tông). Bên phải có khắc 4 chữ Thượng Bảo ty tạo.

Ty Thượng bảo có từ thời Lê sơ, nhà Mạc nắm quyền cũng lập Ty Thượng bảo duy trì từ thời Lê sơ, đây là nơi đúc vật dụng kim loại dùng với tính chất quan trọng như ấn tín. Đến khi nhà Lê trung Hưng đánh tan quân Mạc, chiếm lại Thăng Long thì tổ chức lại Ty Thượng bảo như cũ.

Mặt dấu ấn khắc 4 chữ kiểu Triện vuông Bình Nguyên châu ấn. Đây là quả ấn của viên Tri châu Bình Nguyên. Tức một quan coi địa hạt vùng biên giới.

Châu Bình Nguyên là một trong 5 châu thuộc phủ Yên Bình đạo Tuyên Quang đầu thời Lê Trung Hưng, nay thuộc huyện Vị Xuyên, Bắc Quang và Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang.

5. Ấn đồng Suất Trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng.

Ấn đồng Suất Trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng.

Mặt ấn Suất Trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng.

Số đăng ký: LSb.2525

Kích thước;

Cao: 4,5cm

Mặt: 9,6cm x 6,2cm

Niên đại: Triều Tây Sơn, niên hiệu Quang Trung 4, 1791.

Ấn có cán hình chuôi vồ. Lưng ấn bên phải khắc 5 dòng chữ Hán: Tân Hợi niên đông tạo. Tức ấn được đúc vào mùa đông năm 1791. Bên trái khắc 10 chũ Hán: Suất Trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng.

Mặt ấn cũng khắc 10 chữ Hán kiểu Triện: Suất Trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng.

Đây là chiếc ấn của viên Trung lang tướng ở Hiệu quân thứ 3, Vệ thứ 2 Suất Trung lương.

Trong quân đội triều Tây Sơn, chúc Suất được đưa vào biên chế quân đội một cách rộng rãi. Mỗi một chức đều có chức Suất và thường được gọi có tên kèm theo như Suất Trung lương, Suất Hùng cự… Suất có khi đứng độc lập, có khi do chức khác kiêm quản.

Ấn được sưu tầm tại Nam Định.

6. Ấn đồng Thái y viện ấn

Ân đồng Thái y Viện ấn.

Mặt ấn Thái y Viện ấn

Số đăng ký: LSb.32796

Kích thước:

Cao: 7,4cm

Mặt: 7,4cm x 7,4cm

Niên đại: triều Lê sơ, niên hiệu Quang Thiệu 5, 1520.

Ấn có cán hình chuôi vồ, lưng ấn bên phải khắc hai hàng chũ Hán: Thái y viện ấn Thượng bảo Ty tạo. Bên trái khắc dòng Quang Thiệu Ngũ niên nguyệt nhật (năm 1520). Mặt ấn khắc4chũ Hán kiểu Triện: Thái Y viện Ấn.

Đây là chiếc ấn của viên quan Thái y thời Lê, Thái y Viện là cơ quan độc lâp có từ thời Lê sơ, có con dấu riêng. Chiếc ấn này do Ty Thượng bảo, nơi chuyên đúc vật dụng quý hay nhũng ấn tín của nhà Vua.

Đây là chiếc ấn đồng vô cùng quý hiếm bởi nó chỉ tồn tại trong một triều ngắn ngủi (1516 – 1522) và cũng là chiếc ấn đầu tiên của ngành Y học trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Ấn đồng Thái y Viện ấn như một dấu mốc đáng nhớ, có giá trị lịch sử cho ngành y học dân tộc.

Ấn được sưu tầm tại Lam Kinh, Thanh Hóa, năm 1938.

Nhóm ấn đồng cho ta hiểu rõ hơn về một thể chế của chính quyền các cấp, của mọi cơ quan và đơn vị trong quân đội cũng như ngành nghề khác từ thời Lê sơ, Mạc và Lê Trung Hưng, chúng đều mang tính pháp lệnh quốc gia. Từ đó có thể thấy rằng các triều đại phong kiến Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng và củng cố đất nước trong mọi lĩnh vực, nêu cao tinh thần chống thù trong giặc ngoài, giữ gìn bờ cõi lãnh thổ quốc gia.

Đinh Phương Châm (Phòng QLHV)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 6527

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Gốm Phù Lãng – Đặc sắc gốm sành cổ

Gốm Phù Lãng – Đặc sắc gốm sành cổ

  • 14/09/2015 10:07
  • 7247

Làng Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội 60 km. Phù Lãng nằm ở bên bờ sông cầu thơ mộng, nơi phong cảnh hữu tình của đất Kinh Bắc, có đường giao thông thuận lợi cho việc chuyên chở nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với Thổ Hà (Bắc Giang), Bát Tràng (Hà Nội), Phù Lãng được coi là một trong 3 trung tâm gốm cổ của đồng bằng Bắc Bộ.