Thứ Tư, 13/05/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/08/2014 09:53 20807
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Từ cuối thế kỷ 19, đầu 20, nhiều hoạt động sưu tầm khảo sát đã diễn ra ở khu vực thành Thăng Long cổ. Nhiều đồ gốm men và đồ đất nung ở đây đã được thu thập về Bảo tàng Louis Finot, mà nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia (BTLSQG). Trên nhiều hiện vật còn ghi rõ xuất xứ tìm được ở các địa điểm Quần Ngựa, Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã, Cống Vị, Liễu Giai....mang rõ đặc điểm thời Lý-Trần. Rất nhiều hiện vật, trong số đó đã được BTLSQG đăng ký trong hệ thống bảo vật quốc gia và đang trưng bày trên hệ thống trưng bày thường xuyên của Bảo tàng.

- Gạch xây tháp: Ở khu vực thành Thăng Long xưa, Hà Nội nay, tuy không còn một kiến trúc tháp nào nhưng thư tịch cổ có ghi chép về tháp Báo Thiên được xây dựng dưới thời Lý, sánh ngang với những cây tháp Phật Tích (Bắc Ninh), Chương Sơn (Nam Định), Long Đọi (Hà Nam), Tường Long (Hải Phòng). Cũng không còn một kiến trúc tháp nào xây dựng dưới thời Trần có hình dáng qui mô đồ sộ như tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) hay Phổ Minh (Nam Định).Tuy nhiên những mảnh gạch xây tháp thì vẫn còn được tìm thấy ở nhiều di tích. BTLSQG hiện lưu giữ và trưng bày một số mẫu gạch xây tháp bằng đất nung và gốm men.

- Gạch xây tháp đất nung hình chữ nhật màu đỏ gạch dài 16 cm, rộng 13,5 cm, một mặt khắc chạm nổi 2 hình rồng cuộn đôí xứng, 2 hình phượng đuôi dài uốn khúc trong một khung hình lá đề. Đây là loại hoa văn rồng, phượng điển hình thời Lý.

- Mảnh gạch xây tháp thời Trần, dài 32 cm, rộng 15cm, màu đỏ sẫm, trang trí nổi trên một mặt hình hổ và nhiều lớp văn sóng nước hình nấm. Hổ trong tư thế đứng, đuôi uốn cong như đang chuẩn bị lao lên.

- Gạch xây tháp phủ men trắng có 2 kiểu:

+ Kiểu 1: Gạch hình khối chữ nhật, trên một mặt chạm khắc nổi 2 hình rồng cuộn trong ô chữ nhật, diềm là băng lá đề, cánh sen, sóng nước, phía dưới chạm băng cánh sen mập, cánh to xen cánh nhỏ và 7 tiên nữ múa dâng hoa, phủ men trắng xám. BTLSQG mới sưu tầm được một cây tháp gốm men có tầng dưới cùng là băng hình tiên nữ múa dâng hoa tượng tự. Trong số hiện vật tìm thấy trong khu Ba Đình (2003) cũng tìm thấy những mẫu cùng loại tiên nữ trang trí trên bệ tháp tráng men trắng thời Lý.

+ Kiểu 2: Gạch hình tròn, trên một mặt chạm khắc hình rồng Lý với nhiều khúc uốn hình túi, bao quanh là băng hoa cúc dây và băng văn hình dấu hỏi.

- Gạch xây tháp đất nung phát hiện ở thị trấn Đức Giang, Gia Lâm, Hà Nội vào khoảng năm 1993 cũng cho thấy nơi đây đã từng có một kiến trúc tháp dưới thời Lý, nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành Thăng Long. Địa điểm phát hiện là thuộc làng Ô Cách, xã Việt Hùng trước đây. Những hiện vật tìm thấy ngẫu nhiên khi người dân san đào ao. Đây là các vật liệu kiến trúc tháp và một số tác phẩm điêu khắc trang trí bằng đất nung. Vật liệu kiến trúc có 5 mảnh đất nung, đều là các mảnh dùng để xây tháp với nhiều vị trí và kích thước khác nhau:

+ Hai mảnh để ghép vị trí vòm cửa cuốn tháp (35,5cm x 50cm x 22cm) tại diềm cửa và góc phía mặt ngoài có chạm nổi hoa cúc dây uốn lượn hình sin (trong mỗi khúc uốn có một bông hoa cúc tròn, lá cúc nhỏ rải đều từ đầu đến cuối). Rìa góc có lỗ cá để gắn chì.

+ Một mảnh bó tầng tháp (37,2cm x 36,3cm x19,5cm), mặt ngoài có chạm nổi hoa 4 cánh (hoa thị hoặc hoa chanh) và diềm cánh sen.

+ Hai mảnh mô hình tháp nhỏ, tường trang trí hoa chanh, mái ngói ống, đầu ngói trang trí bông hoa tròn nhiều cánh.

- Các tác phẩm điêu khắc trang trí bằng đất nung là những tiêu bản hiếm quý gần như mới gặp lần đầu tiên. Chẳng hạn, pho tượng phỗng (hay vũ nữ) (15cm x 17cm x 11cm), bị mất phần đầu, tư thế quỳ trên bệ hình chữ nhật vát góc, mình để trần, ngực nở, xiêm áo rộng nhiều nếp, hai tay buông so le.

Hai khối toà sen tròn bằng đất nung màu đỏ gạch, với lối tạo cánh sen tương tự khối hoa sen bằng đá sa thạch cũng tìm thấy ở đây. Mỗi toà sen tạo 3 lớp cánh sen. Toà sen to có đường kính 50 cm, mỗi lớp 14 cánh sen thon dài, trong lòng cánh chạm hoa sen dây. Trong lòng khối toà sen rỗng, đáy trổ thủng 3 lỗ nhỏ, chính giữa có lõi hình ống nhô cao, vành miệng uốn loe ra, làm bệ đỡ một toà sen khác nhỏ hơn đặt phía trên. Toà sen nhỏ có đường kính 30 cm, tạo 10 cánh sen thon dài, lòng cánh sen chạm hoa cúc. Có thể 2 toà sen này là đế lộng lẫy của một pho tượng Phật vốn được đặt thờ trong lòng tháp?

Những tác phẩm điêu khắc trang trí bằng đất nung này gợi ý hình dung về các mảnh đất nung có chạm khắc cánh sen tượng tự tìm thấy ở các di tích Thăng Long hiện lưu giữ tại BTLSQG.

- Mô hình tháp gốm men: Ngoài một mô hình tháp gốm men thời Lý, tuy không còn đầy đủ nhưng rất đẹp đã được BTLSQG sưu tầm từ một sưu tập tư nhân ở Hà Nội (hiện đang trưng bày tại phần lịch sử triều Lý), tại BTLSQG còn lưu trữ một mô hình tháp men ngọc. Theo tài liệu lưu trữ cho biết, xuất xứ mô hình tháp này tìm thấy tại khu vực Bát Tràng. Mô hình tháp cao 26,5cm, rộng 21,5 cm. Tháp hình vuông, bốn mặt trổ thủng vòm cửa cuốn, chạm khắc nổi 8 tượng Kim Cương theo lối phù điêu, cùng các đề tài hoa chanh, băng lá đề,cánh sen, hình tháp trong lá đề. Toàn bộ bên ngoài mô hình tầng tháp phủ men ngọc mầu vàng nhạt.

- Tháp sứ trắng Bát Tràng, cho đến nay thì không có tài liệu nào cho biết toà mô hình tháp này hiện ở đâu? Theo tài liệu của Nguyễn Bá Lăng, chúng ta biết đây là mô hình tháp trong sưu tập riêng của Đỗ Đình Thuật, tìm thấy ở Đại La. Tháp có chiều cao còn lại 1,05m, không kể phần khuyết gãy. Nếu so sánh bản vẽ chi tiết với ảnh chụp mô hình tháp chùa Chò (hiện do Bảo tàng Vĩnh Phúc lưu giữ và trưng bày) thì thấy nhiều điểm tương đồng về kiểu dáng: Tháp vuông, trên nhỏ, dưới to, tầng đế lại càng giống. Đó là các lớp cánh sen úp và ngửa có chạm mặt nhẵn, hình rồng uốn khúc trong ô chữ nhật 2 bên ô cửa vòm, 8 tượng Kim Cương trấn giữ, những hình Phật ngồi thiền trên toà sen trong các hình lá đề và cả những hình tiên nữ đầu người mình chim trên các con sơn chồng đấu...Sự khác biệt thể hiện trên mô hình tháp chùa Chò là ô chữ nhật tầng đế chạm nổi đề tài “ Sừng tê ngọc báu” còn ở tháp này là cành hoa lá. Sự khác nhau còn ở việc sử dụng men. Trong khi tháp Bát Tràng chỉ có men trắng (nên quen gọi là tháp sứ trắng) còn tháp chùa Chò dùng men nâu, men ngọc và men trắng.

Tháp sứ trắng Bát Tràng, theo chúng tôi cũng là một tác phẩm đồ gốm tinh xảo của thời Trần, được sản xuất ở vùng Thăng Long, rất đáng chú ý.

- Một tầng đế tháp vuông, cạnh 36cm, hiện tàng trữ tại Bảo tàng A dam Malik, Jakata, vốn tìm thấy ở Đông Java (Indonexia) có băng cánh sen dẹo và 2 băng cánh sen mặt nhẫn và một băng lá đề bên trong chạm nổi sừng tê ngọc báu, cũng có thể được sản xuất từ khu vực Thăng Long.

- Đầu rồng, đầu phượng đất nung: Đầu rồng, đầu phượng đất nung là những bộ phận trang trí trên đầu đao, bờ nóc (ngói nóc), bờ dải diềm mái của kiến trúc được đắp nặn, chạm trổ rất tinh xảo. Có hàng trăm mảnh thuộc các bộ phận trang trí bằng đất nung thời Lý -Trần đã phát hiện được trong các di tích ở Thăng Long, hiện nay đang lưu giữ và trưng bày tại BTLSQG. Trong cuộc khai quật di tích ở khu vực Ba Đình (Hà Nội), các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều đầu rồng, đầu phượng còn khá nguyên vẹn, màu đỏ gạch. Đầu rồng có bờm mào dài, uốn khúc, miệng ngậm ngọc, xung quanh khắc rạch tỉ mỉ trau chuốt những văn dải xoắn, ô hình thoi... Các nhà khảo cổ còn giữ lại hiện trường có đầu phượng nằm xen kẽ với lá đề đất nung trang trí kiến trúc.

- Tượng uyên ương (còn gọi là tượng vịt) cũng thường gặp trên ngói bò bằng đất nung, đã xuất hiện trên trang trí kiến trúc thời Đinh-Tiền Lê, tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình). Loại tượng này gắn trên ngói bò cong hình chữ nhật, đầu ngẩng, 2 cánh khép, mũi cánh nhô cao trên lưng, đuôi cong, xung quanh khắc các đường sóng cuộn, dài 29cm, cao 29cm, màu đỏ gạch. Tượng vịt ở di tích Long Hưng (Thái Bình) thuộc thời Trần, có cách thể hiện cùng tư thế nhưng tả thực hơn. Các di tích Đoan Môn, Hậu Lâu khai quật năm 1999 cũng thấy 13 tượng vịt, hình thức gần với tượng thời Lý nhưng kích thước nhỏ hơn và đường nét trang trí cũng đơn giản hơn.

- Tượng quan võ trên ngói bò bằng đất nung:Tượng mô tả một võ quan với dáng đứng thẳng, đầu đội mũ hình mặt sư tử, trên thân khắc ô hình thoi và hình lá đề. Đế là ngói bò hình chữ nhật cong, màu đỏ gạch. Tượng cao 27cm, thuộc thời Trần, thế kỷ 13-14. Phải chăng đây là một trong số những tượng trang trí trên mái kiến trúc của một võ quan thời Trần trong kinh thành Thăng Long.

- Phù điêu trang trí kiến trúc bằng đất nung: Đây là các loại phù điêu trên ngói úp nóc kiến trúc thời Lý - Trần thường thể hiện theo lối dẹt 2 mặt:

+ Kiểu 1: phù điêu rồng trên ngói, tạo trổ thủng làm nổi rõ thân rồng với những khúc uốn hình túi, đầu rồng có bờm cao uốn sóng, miệng ngậm ngọc, bệ hình dải lá gắn trên ngói hình chữ nhật cong.

+ Kiểu 2: Phù điêu phượng trên ngói, đầu ngẩng cao, 2 cánh dang rộng, đuôi cuộn sóng, bệ hình chiếc lá nhọn đầu (có thể gọi là lá đề lệch).

+ Kiểu 3: Lá đề đất nung gắn trên đầu ngói ống (tương tự như diềm mái tháp gốm hoa nâu ở chùa Chò, thuộc thời Trần). Trên một mặt trước lá đề in nổi 2 hình rồng cuốn chầu vào viên ngọc trong ô hình lá đề, diềm bao quanh hình ngọn lửa. Các đầu ngói ống có dạng in nổi hoa sen đơn hoặc kép. Để chế tạo các phù điêu đất nung này, phương pháp đổ khuôn là phụ, có thể chỉ là khâu tạo hình đầu tiên, còn để hoàn chỉnh thành phẩm nhất định phải do bàn tay gọt tỉa công phu của người thợ gốm.

Có những lá đề dùng úp trên bờ nóc, kích thước rất lớn đã tìm thấy ở khu Ba Đình, còn khá nguyên lành, 2 mặt chạm khắc 2 hình chim phượng (ở khu di tích Tam Đường, Thái Bình đã thấy lá đề đất nung, tuy bị vỡ, chỉ còn cao 27 cm nhưng chiều rộng tới 53cm).

Nhìn chung, về hình thức, lá đề chạm rồng, phượng thuộc thời Trần giống như thời Lý, song giảm đi sự trau chuốt, các chi tiết đơn giản hơn.

Ở địa điểm Đoan Môn, khai quạt năm 1999, đã phát hiện 12 lá đề rồng và 15 lá đề phượng (Hố 2). Ở địa điểm Hậu Lâu, khai quật cùng năm 1999, đã phát hiện 30 lá đề rồng, 26 lá đề phượng. Các bộ phận trang trí trên toà mái các kiến trúc cung điện, chùa tháp thời Lý-Trần, tuy làm bằng đất nung thô sơ mộc mạc, nặng nề nhưng do tạo hình khéo léo, chạm trổ tinh vi mềm mại, tạo được sự hài hòa với độ dốc, đường cong của tàu mái làm cho toàn bộ kiến trúc trở nên lộng lẫy, trang nghiêm, thực sự chiếm vị trí quan trọng trong nền nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.

- Tượng gốm đất nung: Đây là một số loại tượng độc lập, có thể xem như những tác phẩm mỹ thuật làm bằng đất nung. Tuy việc phát hiện các loại tượng này chưa nhiều nhưng cũng cho thấy nhiều minh chứng của nghệ thuật tạo hình dưới thời Lý-Trần.

- Tượng tiên nữ bằng đất nung, màu đỏ nhạt tìm thấy ở di tích Ngọc Hà, thành Thăng Long. Tượng bị vỡ, chỉ còn 7,5 cm, rộng 7,7cm, mô tả vũ nữ đang múa, mặt nhìn nghiêng. Tiên nữ có mặt trái xoan, trên trán và ngực chạm nổi các vòng tròn nhỏ, tay phải đặt trước ngực. Cũng ở di tích Ngọc Hà, trước đây đã gặp 2 đầu tượng tiên nữ, cao 6,5 cm-7,5cm. Hai đầu tượng đều có vành đai buộc tóc, chạm khắc băng chấm nổi hoặc hoa 5 cánh, màu đỏ gạch.

Ở di tích Quần Ngựa, thành Thăng Long, trước đây cũng phát hiện được 2 đầu tượng Phật nhỏ, màu đỏ gạch, cao từ 8,2 - 9,2cm. Một đầu tượng có chỏm bông sen, một tượng khác có vành mũ cánh sen, trên chỏm chạm nổi hình bông hoa.

Tượng sư tử quỳ trên bệ hình chữ nhật, màu đỏ gạch, cao 16,4 cm. Đây là một tượng đất nung thời Lý, thế kỷ 11-13, rất hiếm còn lại đến nay. Xung quanh thân sư tử còn thấy các chấm dải và dải xoắn.

Mảnh bệ tượng Phật, bằng đất nung màu đỏ gạch, chỉ còn cao 13cm, rộng 27,5cm, với 3 bậc, chạm nổi băng cánh sen và các hình người quỳ theo dáng tiên nữ Apsara. Trên phần còn lại này cho phép hình dung một bệ tượng Phật hình bát giác với các băng văn chủ đaọ là cánh sen nổi và hình tiên nữ, thường gặp trên nhiều hiện vật thời Lý. Tất cả những hiện vật đất nung nêu trên hiện đang được trưng bày trong phần nghệ thuật thời Lý-Trần tại BTLSQG.

Vật liệu trang trí kiến trúc thời Lý-Trần không chỉ thể hiện vẻ đẹp kỳ diệu của các công trình cung điện, lầu gác, chùa chiền thời ấy mà cũng tỏ rõ sức sống mới của nền văn hóa Đại Việt.

TS.Nguyễn Đình Chiến (Nguyên PGĐ BTLSQG)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 6977

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam 90 năm phát hiện và nghiên cứu (Phần cuối)

Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam 90 năm phát hiện và nghiên cứu (Phần cuối)

  • 15/08/2014 09:41
  • 6414

Văn hóa Đông Sơn là một trong ba nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng đã góp phần hình thành nên các nhà nước sơ khai ở Việt Nam. Di tích được phát hiện ngẫu nhiên vào năm 1924 tại làng Đông Sơn (Thanh Hóa). Năm 1934, nhà khảo cổ học R. Heine-Geldern đề nghị đặt tên là văn hóa Đông Sơn.