Thứ Tư, 19/06/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

14/04/2014 15:35 3260
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Vùng đất Kiếp Bạc nằm liền kề bên tả ngạn sông Lục Đầu Giang, thuộc địa phận xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải Dương), cách Hà Nội khoảng 100km về phía đông, cách Phả Lại 5km về phía Bắc. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đây là nơi có vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt. Trên hết, đó là vị trí tiền tiêu của cả vùng đông bắc rộng lớn của tổ quốc, thường được ví như điểm "đầu con đường xâm lược" của phong kiến phương Bắc.

Từ Lạng Sơn đi xuống, từ biển khơi đi vào trung tâm Thăng Long, cả hai đường thuỷ bộ đều phải qua đây. Chính bởi vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam đặc biệt coi trọng vùng đất này. Các vị vua thời nhà Lý và Trần rất quan tâm xây dựng, với việc ban hành các chính sách phát triển kinh tế, quân sự (Vân Đồn) cùng với việc cử các vị tướng tài thống lĩnh (Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư).

Cảnh quan khu vực Kiếp Bạc.

Trong bối cảnh địa lý nhân văn ấy, với vị thế đặc biệt quan trọng, Kiếp Bạc trở thành vùng đất "địa linh - nhân kiệt" khá nổi tiếng trong lịch sử. Trước hết, đây là khu vực có địa thế núi - sông hùng vĩ, hội đủ các yếu tố của một vùng đất 'địa linh", với hệ thống các dãy núi cao thuộc vòng cung Đông Triều ôm trọn cả vùng đông bắc. Nơi đây có một hệ thống núi cao trung bình từ 200m đến 250m, trong đó núi Trán Rồng đứng sừng sững như tay ngai ôm lấy trung tâm là đền Kiếp Bạc. Hai dãy núi Côn Sơn (phía bắc) và Phượng Hoàng (phía nam), nối dài từ Yên Tử về như ôm lấy lòng chảo Kiếp Bạc. Dãy Côn Sơn nối với Kiếp Bạc bằng những quả đồi thấp dạng "bát úp" nằm rải rác trong thung lũng phía đông bắc. Dãy Phượng Hoàng chạy theo mé phía nam như bức tường thành tự nhiên chia đôi núi và đồng bằng của huyện Chí Linh.

Núi linh thiêng Trán Rồng.

Bên cạnh Sơn văn, Thuỷ văn vùng Kiếp Bạc quyết định bởi sông Lục Đầu Giang, quanh năm mênh mông nước, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, khúc sông này trở nên rộng lớn vô cùng bởi là nơi hợp lưu của nhiều dòng sông (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Kinh Thày).

Lục Đầu Giang nhìn từ trên cao.

Song, không chỉ có vậy, Kiếp Bạc còn có những đồng bằng (nhỏ hẹp) là bãi bồi chạy dài hay là các thung lũng nhỏ rất thuận lợi cho phát triển kinh tế, sản xuất. Với hình thế núi - sông như "thế bàn tay" hoà - hợp, có thể thấy khu vực Kiếp Bạc có vị thế đặc biệt quan trọng, thuận tiện giao lưu/thông, không chỉ phát triển kinh tế mà còn là trọng điểm quân sự. Chính bởi vậy, vùng đất này là nơi gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử.

Trong lịch sử dân tộc, vào thế kỷ 13, địa danh Kiếp Bạc/Vạn Kiếp được sử sách ghi chép nhiều bởi nó gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn - nhà chỉ huy quân sự có tài thao lược, người có công tích lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông xâm lược, người được tôn vinh là "cha" trong tâm thức dân gian Việt, với lễ hội lớn vào tháng 8 Âm lịch (tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ). Do Kiếp Bạc là nơi có địa thế núi - sông hoà hợp, cây cối xanh tươi, làng mạc trù phú, được Trần Hưng Đạo lựa chọn làm phủ đệ, nhằm vừa mở mang kinh tế, sản xuất, song vẫn có thể đảm trách là tiền đồn vững chắc, cứ điểm quân sự quan trọng lúc bấy giờ.

Lon sành thời Trần.

Mộ táng trong quan, ngoài quách thời Trần.

Bên cạnh đó, vùng đất này cũng gắn với nhiều nhân vật thời Trần khác. Liền kề Kiếp Bạc là núi Côn Sơn, với đền thờ và hệ thống di tích liên quan đến Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá thế giới. Phía xa, dưới chân núi Phượng Hoàng là di tích thờ Chu Văn An - nhà giáo liêm khiết, nổi tiếng thanh cao, trung trực với "thất trảm sớ"...

Do hàm chứa những giá trị lịch sử/văn hoá to lớn, từ lâu vùng đất "địa linh - nhân kiệt" Kiếp Bạc đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu và đông đảo nhân dân cả nước, đặc biệt là vào mùa lễ hội được tổ chức trang trọng hàng năm.

TS. Nguyễn Văn Đoàn- Phó Giám đốc BTLSQG

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 3993

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Tượng gốm cổ Việt Nam

Tượng gốm cổ Việt Nam

  • 11/04/2014 17:15
  • 5977

Tượng gốm là một trong các loại hình điêu khắc xuất hiện sớm nhất của văn minh nhân loại, mang đặc trưng là nghệ thuật tạo hình trực quan theo không gian ba chiều nhằm phản ảnh hiện thực hoặc mang tính biểu tượng. Do đặc thù vật liệu, gốm chỉ phù hợp để làm các bức tượng nhỏ. Tuy vậy, các tác phẩm tượng gốm không những thể hiện khát vọng hướng tới Chân - Thiện - Mỹ của loài người mà còn phản ảnh niềm tin tôn giáo ở hầu hết các nền văn hóa trên thế giới.