Tương truyền, nghệ thuật gỗ khảm trai xuất hiện ở vùng châu thổ Bắc Bộ vào khoảng thế kỷ 10. Hai trung tâm chính sản xuất đồ khảm trai này là làng Ninh Xá (huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định), và làng Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội). Đến thời Trần (thế kỷ 13-14), nghệ thuật gỗ khảm trai Việt Nam phát triển và nhiều sản phẩm khảm trai thời kỳ này được vua chọn làm đồ cống cho nhà Nguyên.
Khi người Châu Âu vào Việt Nam, nghệ thuật gỗ khảm trai được đánh giá cao về kỹ nghệ cũng như độ tinh xảo. Từ cuối thế kỷ 19, đồ gỗ khảm trai ở Hàng Khay (Hà Nội) đã được nhiều du khách Châu Âu ngưỡng mộ. Năm 1877, đồ khảm trai Việt Nam đã được đưa sang Pháp tham gia trưng bày. Song cho đến nay, ở Việt Nam những sản phẩm khảm trai còn lưu giữ được chỉ có niên đại khoảng 300 năm. Đồ gỗ khảm trai còn tồn tại đến ngày nay chủ yếu có niên đại triều Nguyễn (thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20) với hai loại hình chủ yếu là đồ thờ, đồ dùng sinh hoạt như: hoành phi, câu đối, án thư, sập, tủ chè, bàn ghế, bình phong, điếu ống, tráp trầu, hộp đựng thuốc lá, nậm rượu... được khảm trên nhiều chất liệu khác nhau bằng gỗ, đồng, đá... với những đề tài phong phú: tứ linh, tứ quý, phong thủy, thi họa, vinh quy bái tổ, ...
Sưu tập đồ gỗ khảm trai thời Nguyễn hiện lưu giữ và trưng bày ở bảo tàng Lịch sử quốc gia có số lượng lên tới hơn 200 hiện vật, với nhiều loại hình phong phú như: tranh trang trí phong cảnh, tranh thuyền rồng, tranh đám rước, bình phong, tủ, khay, hộp…với các đề tài trang trí phổ biến như: tứ linh, phong thủy, thi họa...Trong đó, chiếc tủ khảm trai hiện đang được trưng bày trong sưu tập đồ gỗ khảm trai là một trong những hiện vật độc đáo mang đậm những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật triều Nguyễn.

Tủ khảm trai triều Nguyễn hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Tủ khảm trai là một trong những đồ nội thất dành cho tầng lớp quý tộc, vua chúa và quan lại, gia đình giàu có thời kỳ này. Vì thế mà tủ được làm rất cầu kỳ, công phu từ khâu lựa chọn chất liệu gỗ, vỏ trai, ốc, đến kỹ thuật chạm khảm, đề tài trang trí,..
Khi quan sát kỹ chiếc tủ khảm trai, chúng ta có thể thấy được những đường nét khảm trên mặt ngoài của tủ vô cùng tinh xảo, những đề tài trang trí phong phú khiến cho người xem bị cuốn hút vào những cảnh vật rất sinh động.
Chiếc tủ khảm trai có kích thước khá lớn, hai mặt bên và một mặt trước của tủ đều được trang trí các đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý ( tùng, cúc, trúc, mai), các tích truyện, phong cảnh, sơn thủy,... Đặc biệt, trên 4 ván ở hai đầu tủ trang trí thi - họa vịnh cảnh 4 mùa với thú chơi tao nhã của những bậc thi nhân Việt Nam:
“Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng độc hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi”
Nghĩa:
(Mùa xuân đi du ngoạn chốn đồng nội
Mùa hạ uống trà bên ao sen
Mùa thu uống rượu ngắm hoa cúc vàng
Mùa đông ngồi ngâm thơ Bạch tuyết)
Để làm ra chiếc tủ khảm trai đẹp, người thợ khảm phải bỏ ra rất nhiều công sức, trí tuệ cũng như đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo, chuẩn xác tuyệt đối và bề dày kinh nghiệm của người thợ khảm: từ việc chọn gỗ; chọn vỏ trai, ốc; sáng tác bản vẽ; mài, cưa, đục trên mặt tranh khảm; mài, đánh bóng mặt khảm.

Đề tài trang trí trên tủ khảm trai triều Nguyễn
Chất liệu gỗ để khảm chủ yếu là gỗ gụ, gỗ trắc với ưu điểm: thớ mịn, rắn. Màu nền của gỗ có ánh đỏ, hồng, đối màu với các họa tiết trai, ốc tạo nên màu sắc tương phản nổi bật rất đẹp mắt.
Việc chọn trai, ốc cũng khá công phu. Chất liệu trai, ốc thường lấy ở biển. Việt Nam với bờ biển dài, nguồn nguyên liệu dồi dào và được khai thác tại chỗ nên nghề khảm trai từ xưa đã khá phát triển khá mạnh. Những chất liệu bằng vỏ trai, ốc đẹp nhất ở Việt Nam thường có xuất xứ từ huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hóa), hoặc từ các vùng như Quy Nhơn (tỉnh Bình Định), Quảng Nam, Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Ninh Thuận)... Ngoài ra, trai và ốc còn được nhập khẩu từ Singapo, được dùng để chạm nổi phối hợp với mảnh ngà voi theo phong cách của người Nhật. Loại vỏ này được dùng trang trí trên các tấm bình phong lớn, đôi khi chúng còn được gắn trên mái đình chùa. Bên cạnh đó, còn có loài ốc Nhật Bản với tên là “Tai gấu”, loại này màu sắc lốm đốm, rực rỡ có nhiều ở vịnh Bắc Bộ.
Sự tinh tế, khéo léo của người thợ khảm phần nào thể hiện qua chế tác những đồ gỗ khảm trai, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau:
Xẻ, mài và ép ốc, trai: Trước tiên, người thợ xẻ ốc theo ba đường gân nổi của xương ốc, lọc bỏ lớp ngoài và lớp trong, lấy lớp tinh khiết ở giữa. Sau đó, mài nhẵn lớp đã chọn, cho lát cắt ốc hơ lên trên ngọn đèn dầu, mặt trên đỡ bằng que đóm được ngâm trong bùn ao lâu ngày, vì ốc này nhiều canxi nên khi gặp nhiệt độ cao sẽ dễ miết thẳng ra. Công đoạn này và kể cả các bước làm tiếp sau không hề có sự tham gia của máy móc kỹ thuật, vì nếu dùng máy ép, ốc sẽ bị vỡ vụn…
Châm vạch ốc: Lấy kim vạch mảnh ốc theo mẫu hoa văn, sau đó là kỹ thuật chạm đục trên mặt gỗ rồi lấy mảnh ốc đã châm vạch gắn xuống mặt gỗ.
Mài, đánh bóng, tỉa gọt: Sau khi đã gắn từng mảnh ốc đã khảm xuống mặt gỗ. Gỗ được chọn làm mặt tranh là gỗ Gụ, loại gỗ này khi đánh bóng sẽ có màu nâu trầm rất hòa hợp với màu trai, ốc.
Truyền thần cho tranh đây là một trong những khâu quan trọng để bức tranh có hồn, thể hiện được những ý tưởng của nghệ nhân.
Qua đó cho thấy, vẻ đẹp của đồ gỗ khảm được thể hiện ở những họa tiết trong tranh, có những họa tiết có thể chạm “nhỏ như sợi tóc”. Những họa tiết khảm trai nhìn chính diện óng ánh màu hồng sáng, nhìn chéo lại rực lên ánh sáng của nhũng ngọn lửa màu ngọc lục tạo nên một không gian lung linh huyền ảo.
Như vậy, qua quy trình cũng như những đề tài trang trí trên đồ gỗ khảm trai đã thể hiện tư duy thẩm mỹ, nghệ thuật của triều Nguyễn, cũng như đời sống tinh thần phong phú đặc biệt là của tầng lớp nho sĩ. Hơn nữa, mỗi tác phẩm khảm trai còn thể hiện sự cần cù, tỉ mỉ, sáng tạo của nghệ nhân triều Nguyễn. Đây là sản phẩm không chỉ được cư dân trong nước ưa chuộng mà còn được xuất khẩu sang các nước có thế mạnh về hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần phát triển kinh tế đất nước
Phạm Thị Huyền
(Phòng Giáo dục, Công chúng)