Chủ Nhật, 25/02/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

29/08/2012 16:21 2906
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Chùa Một Cột nổi tiếng ở Hà Nội tương truyền là tên được các vua nhà Lý đem theo từ ngôi chùa Nhất Trụ ở Hoa Lư (Ninh Bình) - nơi có cột kinh Phật độc đáo được làm bằng đá đầy bí ẩn được cho là chỗ giấu vàng.

Nằm trong quần thể khu di tích cố đô Hoa Lư ngày nay vẫn trường tồn ngôi chùa Nhất Trụ - hay còn được gọi là chùa Một Cột. Đây là một trong những ngôi chùa nổi tiếng được xếp hạng di tích cấp quốc gia, nằm trong quần thể khu di tích cố đô Hoa Lư cùng với đình Yên Thành, đền thờ công chúa và đền vua Lê Đại Hành - di tích có giá trị lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của kinh đô Hoa Lư xưa.

Chùa tọa lạc trên khoảng đất rộng hơn 3.000 m2, quay về hướng Tây với các hạng mục kiến trúc gồm: chùa chính theo bố cục chữ Đinh gồm Tiền đường và Thượng điện, nhà Tổ, nhà Khách, khu vườn tháp và các công trình phụ trợ.

Cổng chùa được xây ngay bên phải sân chùa theo kiểu 2 tầng 8 mái, mặt ngoài là đại tự khắc 3 chữ Hán “Nhất Trụ Tự” (chùa Nhất Trụ). Tòa Tiền đường 5 gian được làm kiểu tường hồi bít đốc, các bộ vì nóc kiểu kèo kẻ giá chiêng chủ yếu được bào trơn đóng bén với một số mảng chạm khắc lá lật, vân xoắn trên đầu xà hoặc chạm chữ thọ trong vòng tròn mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn.

Tòa Thượng điện 3 gian nối liền với gian giữa Tiền đường cũng có kết cấu tương tự. Đây chính là không gian cho việc bài trí tượng Phật trong chùa với các lớp tượng: Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm chuẩn đề, Quan Âm tọa sơn, Thích Ca sơ sinh... Ngoài ra còn có tượng Tổ, tượng Thị giả được bày ở nhà Tổ.

Hệ thống di vật ở chùa khá phong phú nhưng nổi bật là quả chuông đồng đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) với những lời răn dạy mang đậm chất nhân văn của Phật giáo: "Làm việc thiện sẽ gặp trăm điều tốt lành... Nhà làm việc thiện thì tấm lòng luôn vui vẻ không dừng, luật nhân quả tỏ rõ". Đặc biệt nhất trong hệ thống di vật của chùa phải kể đến là Thạch kinh, tức cột kinh Phật ở sân trước chùa.

Thuật ngữ Phật giáo gọi đó là kinh Lăng Nghiêm có kiểu dáng tương tự những cột kinh Đinh Liễn tìm thấy ven bờ sông Hoàng Long. Điểm khác là cột kinh chùa Nhất Trụ có kích thước lớn hơn nhiều, mặt khác có một vòng cánh sen bao quanh đế cột, trong khi cột kinh Đinh Liễn không có hoa văn. Cột kinh chùa Nhất Trụ có hình bát giác cao 4,16 m, gồm 6 bộ phận gá lắp với nhau bởi các ngõng, bao gồm: tảng đế vuông, đế tròn, thân bát giác, bông hoa đá tám cánh và đỉnh hồ lô.

Tất cả các bộ phận gắn với nhau hoàn toàn không sử dụng chất kết dính nhưng rất vững trãi dù đã trải qua nghìn năm mưa gió. Theo ghi chép của chùa Nhất Trụ, tảng đế dưới cùng có hình gần vuông góc mỗi chiều 140 cm, dày 30 cm; lỗ mộng tròn ở giữa tảng có đường kính 29 cm, sâu 55 cm. Đế tròn trên to dưới nhỏ, dày 32,5 cm; đường kính phía trên 76 cm, đường kính phía dưới 66 cm.

Bên dưới đế có ngõng tròn đường kính 15,5 cm, dài 3,5 cm, ngõng lắp vừa khít vào lỗ mộng ở tảng đế vuông. Trên mặt đế tròn có lỗ mộng đường kính 34,5 cm; sâu 9 cm. Bao quanh đế cột có vòng cánh sen đường kính 107 cm, với tổ hợp 22 cánh đơn, chiều dài mỗi cánh 15-17cm, rộng 13cm. Cánh sen thon tương tự cánh sen trên một số tảng đá làm bậc đi ở trong động Am Tiên - tương truyền là nơi vua Đinh nuôi nhốt hổ, báo để trừng trị những kẻ phản quốc hoặc có tội nặng.

Theo các nhà nghiên cứu về Phật giáo nói riêng và nghệ thuật kiến trúc nói chung, những cánh sen xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam trong kiến trúc nghệ thuật cùng các hình thức trang trí cánh sen trong kiến trúc Lý - Trần đều bắt nguồn từ cột kinh Lăng Nghiêm. Quan sát kỹ sẽ thấy thân cột bát giác có số đo qua tâm hai mặt đối diện là 65 cm. Hai đầu cột đều có ngõng cắm vào đế và thớt bát giác dày 13 cm, có số đo qua tâm hai mặt đối diện là 61 cm (ở phía dưới) và 65 cm (ở phía trên), như vậy cột có dáng trên to dưới nhỏ.

Hai đầu cột đều có ngõng cắm vào đế và thớt: ngõng dưới dài 5 cm, đường kính 16 cm; ngõng trên dài 6 m, đường kính 18 cm. Thớt bát giác có số đo qua tâm 2 mặt đối diện là 69cm, dày 13 cm, mặt trên phẳng, mặt dưới có lỗ mộng sâu 7 cm, đường kính 31 cm để ngậm vào ngõng trên của thân.

Đấu cao 26 cm có đường gờ miệng uốn lượn tạo nên 8 đỉnh nhọn, phía dưới được thu nhỏ tạo hình tròn, phía trên đấu có lỗ mộng tròn sâu 7 cm để gắn chóp hồ lô. Chóp trên cùng đã bị mất, nhưng căn cứ vào chóp trên những cột kinh Đinh Liễn so sánh tỷ lệ với thân, các nhà khoa học đoán định chóp có hình chiếc hồ lô thóp bụng, cổ dài, miệng tù, cao 80 cm, đường kính 30 cm.

Trên tám mặt của thân cột khắc đầy chữ Hán, nhưng trải qua thời gian hơn 1.000 năm, nửa dưới và ba mặt nửa trên cột đã bị mờ hoàn toàn. Năm mặt nửa trên còn lại cũng không đọc được nguyên vẹn. Nếu còn nguyên vẹn, ước khoảng 2.500 chữ, giờ đây số chữ có thể khổ tâm đọc được hoặc nhận dạng là 1.200 chữ. Theo sư thầy Thích Đàm An - trụ trì chùa Nhất Trụ, nội dung văn tự có 3 phần: kệ, kinh, lạc khoản. Nội dung văn tự là kinh Thủ Lăng Nghiêm, ca ngợi sự bền vững của Đức Phật, sự to lớn bao trùm của tài năng Phật Như Lai.

Còn theo ông Nguyễn Văn Sang - Phó Chủ tịch UBND xã Trường Yên, từ xưa tại đài sen này đã tồn tại những câu chuyện liên quan đến việc giấu vàng của người Tàu. Minh chứng rõ nhất là phần rời của phía trên cột kinh là nơi để cho vàng vào bên trong. Dù truyền thuyết chỉ là những câu chuyện mang tính hư cấu nhưng nhiều người ở địa phương vẫn tin vào điều ấy.

Theo An Ninh Thủ Đô

baodatviet.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 3626

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Hiện vật kim loại trong văn hóa Óc Eo - An Giang

Hiện vật kim loại trong văn hóa Óc Eo - An Giang

  • 27/08/2012 17:06
  • 6148

Nếu chữ viết có khả năng phản ánh rộng rãi: từ khái quát đến cụ thể, từ hệ thống đến chi tiết, thì các di vật văn hóa khảo cổ lại có khả năng phản ánh hiện thực trong phạm vi nhỏ một cách sống động, chân thực.