Thứ Sáu, 19/07/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

26/06/2014 08:26 2521
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong vòng 10 năm (1918 – 1928), thực dân pháp đã có những chính sách cai trị triệt để đối với quần chúng nhân dân ta. Một trong những chính sách cai trị đó là hoạt động tư pháp của chúng đối với chính quyền thuộc địa,và Hà Đông là một trong những trường hợp tiêu biểu đó.

1.Một số văn bản pháp lý chính về hoạt động tư pháp ở Bắc kỳ

Trong thời kỳ thuộc địa, ở Bắc kỳ tồn tại song song hai hệ thống pháp luật là luật của Pháp và luật bản xứ. Tương ứng với chúng là hai loại hình tòa án: Tòa Tây án và Tòa án bản xứ. Luật của Pháp được sử dụng tại Tòa Tây án để xét xử người Pháp, người Âu và người bản xứ quốc tịch Pháp, phục vụ cho lợi ích của người Pháp hơn người Việt, đặc biệt là trong các vụ có liên quan đến người bản xứ. Với Tòa Tây án có quyền xét xử người Việt theo luật pháp của Pháp. Luật bản xứ dùng để xét người Việt và người Châu Á tại các Tòa án dành cho người bản xứ và người Á. Đặc biệt ngày 1-1-1918, bộ luật mới chính thức được thực hiện ở Bắc kỳ thông qua chỉ dụ ngày 16-7-1917 bao gồm: Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự, Luật thương mại và bộ Luật hình. Nhìn chung, các bộ luật mới này đều tăng cường hình phạt và trách nhiệm của những người thực hiện chức năng tư pháp, cũng như xác lập vai trò của công sứ trong quá trinh xét xử, từ việc tố tụng đến việc kết án. Vì vậy có thể coi 4 bộ luật trên là cơ sở để thực thi hoạt động tư pháp ở Bắc kỳ, trong đó có hoạt động tư pháp ở tỉnh Hà Đông.

Bản đồ Hà Đông năm 1924.

2.Tổ chức tư pháp ở tỉnh Hà Đông :

Trong hoạt động tư pháp, kết cấu của Tòa án bản xứ tại Bắc kỳ nói chung và tỉnh Hà Đông nói riêng giai đoạn 1918- 1928 được tổ chức theo Luật pháp viện biên chế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình của mỗi địa phương và nhất là nguồn viện trợ chức chuyên ngạch tư pháp mà hệ thống tư pháp của mỗi tỉnh có những sự riêng biệt. Đối với tỉnh Hà Đông, hệ thống tư pháp đươc tổ chức thành các cấp bao gồm: Tòa án cấp 1 và Tòa án

cấp 2.

Tòa án cấp 1: Do thẩm phán duy nhất là Tri phủ hoặc Tri huyện đảm nhiệm với sự hỗ trợ của một thư ký tòa do thống sứ chỉ định. Tòa án cấp 1 có nhiệm vụ chính là thực hiện hòa giải các vụ việc mà Chánh tổng, Phó tổng và chính quyền xã gửi đến. Tòa án cấp 1 có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và chung thẩm các vụ án có giá trị tranh chấp dưới 30 đồng Đông Dương.

Tòa án cấp 2 (còn gọi là Tòa án tỉnh): được đặt tại trung tâm tỉnh Hà Đông. Ở tỉnh Hà Đông, công sứ Hà Đông giữ vị trí người đứng đầu cơ quan tư pháp. Tuy nhiên trên thực tế, người nắm quyền lực trong việc điều khiển hoạt động tư pháp ở tỉnh Hà Đông là viên Phó Chánh án người Pháp. Như vậy về mặt danh nghĩa, Tòa án cấp tỉnh Hà Đông được xếp vào loại hình Tòa án bản xứ. Thế nhưng những người nắm vai trò điểu khiển và quyết định lại là những đại diện cao nhất của thực dân Pháp ở tỉnh Hà Đông: Công sứ và Phó Chánh án. Trong khi đó, vai trò các viên chức người Việt bị đẩy xuống và trở thành giúp việc cho Chánh án người Pháp.

3.Hoạt động của bộ máy Tư pháp ở tỉnh Hà Đông :

Theo thống kê chính thức của chính quyền thuộc địa, số vụ khiếu kiện do Tòa án cấp tỉnh tiếp nhận tăng dần qua các năm từ 1918 – 1928. Đặc biệt là sau năm 1923, thời điểm Hà Đông áp dụng quyển 1 Bộ Luật Dân sự mới dành riêng cho Bắc kỳ. Sự gia tăng nhanh chóng cả về số vụ tư pháp cho thấy hai vấn đề cơ bản: Trước hết, đó là trình độ nhận thức của người dân về quyền lợi được nâng lên và một phần nào đó là sự trông cậy của họ vào nền luật pháp mới được áp dụng. Đồng thời với sự hiện diện của một viên chức người Pháp chuyên ngạch tư pháp có thể là một đảm bảo rằng những khiếu kiện của họ sẽ không thể bỏ qua, hoặc ít ra sẽ được giải quyết ở một mức nhất định. Mặt khác, thời kỳ này, Hà Đông là địa bàn thử nghiệm của rất nhiều cải cách quan trong cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của chính quyền thuộc địa. Quá trình thử nghiệm đó cũng đồng thời bộc lộ rõ hơn những mâu thuẫn vốn có của xã hội khi quyền lợi giữa các bên liên quan là đối lập. Điều đó phản ánh rõ khi xét tỷ lệ khiếu nại giữa dân sự và hình sự. Số khiếu nại hình sự có giảm qua các năm nhưng luôn ở mức cao hơn so với khiếu nại dân sự. Cụ thể năm 1924 – 1925, số khiếu nại dân sự là 500 thì số khiếu nại hình sự là 1377. Tuy nhiên, khả năng thụ lý và giải quyết khiếu kiện của Tòa án cấp 1 và Tòa án cấp tỉnh còn hạn chế so với lượng đơn từ, khiếu kiện hàng năm. Năm 1924 – 1925, thời điểm mà đơn kiện đạt mức kỷ lục là 1877 thì có tới hơn 66% hồ sơ không được giải quyết. Sự gia tăng của số lượng các vụ kiện,vụ án của Tòa án cấp 1 và Tòa án tỉnh là một nguyên nhân cản trở quá trình vận hành của hoạt động tư pháp.

Trong số các vụ khiếu kiện, số vụ liên quan đến tranh chấp đất đai cũng chiếm tỷ lệ lớn nhất, nhất là từ sau năm 1921, khi chính quyền thực dân bắt đầu tiến hành việc đăng ký sở hữu đất đai và đạc ruộng đất để lập sổ địa bạ tại Hà Đông. Sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào vấn đề kiểm soát ruộng đất đã vô tình làm lộ ra rất nhiều diện tích đất đai vốn bị làng xã và chính các chủ sở hữu ruộng đất, ẩn lậu đã không khai báo và không đóng thuế. Điều này đã làm nổi lên nhiều tranh cãi, khiếu kiện giữa các phe phái. Bên cạnh vấn đề đất đai, các vụ cướp bóc cũng chiếm tỷ lệ lớn trong số các hồ sơ mà Tòa án tỉnh phải thụ lý. Mục đích của những cải cách tư pháp trong khoảng thời gian chúng tôi nghiên cứu chính là việc chuyên nghiệp hóa đội ngũ viên chức thực hiện chức năng tư pháp, phân chia thẩm quyền rõ ràng giữa tòa án các cấp. Thế nhưng trên thực tế, nhân sự lại luôn là vấn đề khó khăn nhất trong quá trình vận hành bộ máy tư pháp tỉnh Hà Đông. Điều này được thể hiện trước hết ở việc phân cấp thẩm quyền không hợp lý giữa Tòa án cấp 1(Tòa án phủ/huyện) và Tòa án cấp 2 (Tòa án tỉnh).

Đối với Tòa án cấp 1: Chỉ thực hiện tuyên án một số lượng nhỏ các vụ việc, trong đó chiếm số đông là các vụ bạo lực nhỏ và lăng nhục, ngoài ra các vấn đề khác không được đề cập tới. Thẩm phán Tòa án cấp 1 có khả năng tiến hành điều tra tại chỗ các vụ hình sự quan trọng qua sự ủy quyền của Chánh án Tòa án cấp 2 nhưng lại không có thẩm quyền xét xử. Trường hợp xảy ra ẩu đả, xô xát thì chỉ có Phó chánh án thuộc Tòa án tỉnh mới được quyền xét xử các vụ này. Thực tế này không những hạn chế phạm vi xét xử của Tòa án cấp 1, mà còn làm cho Tòa án tỉnh luôn trong tình trạng chậm trễ giải quyết và phán xét. Phó chánh án, là người duy nhất có đủ tư cách để giải quyết tất cả mọi việc thuộc Tòa án cấp 2. Ngoài ra, Phó chánh án còn phải theo dõi, quản lý và thanh tra các thẩm phán của Tòa án cấp 1. Đây cũng là thực trạng chung của Tòa án tỉnh. Vấn đề tiếp xuất phát từ những người thừa hành bản xứ. Lúc này ở Tòa án cấp 1, Tri phủ, Tri huyện vẫn giữ chức vụ thẩm phán thực thụ song đã có sự can thiệp của nhân viên chuyên trách do Thống sứ chỉ định. Ở Tòa án cấp 2, Án sát bị đảy xuống vai trò trợ giúp tư pháp cho Phó chánh án. Điều đó đồng nghĩa, chính quyền thực dân tăng cường những đại diện của mình trong hệ thống cơ quan tư pháp bằng cách hạn chế hoặc cắt giảm quyền lực tư pháp vốn có của quan chức bản xứ. Bên cạnh đó, thái độ của dân chúng cũng không mặn mà lắm với các cuộc cải cách không chỉ trên lĩnh vực tư pháp mà cả những cải cách về kinh tế hay xã hội khác, dường như tư tưởng phong kiến ấy vẫn còn rất gắn bó với tổ chức và nền luật pháp riêng của họ - lệ làng.

Như vậy, sau Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, với mục tiêu tập trung toàn lực cho cuộc khai thác thuộc địa thứ hai, thực dân Pháp đã không ngừng tăng cường, củng cố bộ máy cai trị tại Việt Nam. Tuy nhiên đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, khi cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra và chính sách thuộc địa thay đổi, bộ máy tư pháp lại trở thành một trong những đối tượng chính cần phải “cải cách” của chính quyền thực dân.

Thanh Nhàn (biên tập)

Nguồn:

- Nguyễn Lan Dung, “Hoạt động tư pháp của chính quyền thuộc địa ở tỉnh Hà Đông giai đoạn 1918 – 1928”, NCLS, số 3 – 2014.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Bài viết khác

Bảo tàng Lịch sử quốc gia với công tác nghiên cứu, sưu tầm gìn giữ và phát huy giá trị tài liệu, hiện vật góp phần khẳng định bảo vệ Chủ quyền biển đảo Việt Nam

Bảo tàng Lịch sử quốc gia với công tác nghiên cứu, sưu tầm gìn giữ và phát huy giá trị tài liệu, hiện vật góp phần khẳng định bảo vệ Chủ quyền biển đảo Việt Nam

  • 23/06/2014 14:59
  • 2870

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi quốc gia dân tộc. Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhiệm vụ bảo vệ giữ gìn chủ quyền lãnh thổ là nhiệm vụ sống còn của các triều đại phong kiến Việt Nam. Kể từ khi nước nhà giành lại được nền độc lập tự chủ cho đến nay, vấn đề biên giới và lãnh thổ luôn luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt. Bảo vệ biên giới quốc gia là bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc.