Thứ Năm, 18/07/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

21/03/2014 14:49 6041
Điểm: 3.75/5 (4 đánh giá)
Trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, nhà Trần - Vương triều Trần (1225-1400) có vị thế rất nổi trội và cực kỳ ngời sáng. Với 175 năm tồn tại của mình, nhà Trần đã tạo lập được những kỳ tích thực sự huy hoàng: chấm dứt được tình trạng hỗn loạn của xã hội Đại Việt vào những năm cuối của Vương triều Lý (1009-1225); Xây dựng được nhà nước Trung ương tập quyền thống nhất, vững mạnh từ cấp trung ương, tới cấp cơ sở là xã; Lập lại được trật tự chính trị - xã hội; củng cố được sự thống nhất của quốc gia; chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, khoan thai sức dân; thúc đẩy văn minh Đại Việt phát triển lên tầm cao mới.

Khi đất nước bị đế chế Mông Nguyên hùng mạnh ba lần xâm lược, Vương triều Trần đã tổ chức, lãnh đạo quân dân Đại Việt trên dưới một lòng dám đánh,quyết đánh và đã đánh bại cả ba lần xâm lược của đại quân Mông Nguyên, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia, làm rạng danh lịch sử dựng, giữ nước oai hùng của dân tộc và tạo nên hào khí Đông A bất diệt.

Công trạng, di sản lịch sử - văn hóa của nhà Trần-Vương triều Trần nói chung, của những người mở nghiệp nhà Trần như Trần Lý, Trần Thừa, Trần Tự Khánh, Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung, của những quân vương anh minh, đức độ, tài năng văn võ kim toàn như Trần Thái Tông (tức Trần Cảnh – 1226-1258), Trần Thánh Tông (tức Trần Hoảng – 1258-1278), Trần Nhân Tông (tức Trần Khâm – 1279-1293), của các nhà chính trị, quân sự kiệt xuất, các nhà văn hóa tài năng, các nhà giáo xuất chúng v.v… nói riêng như Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, Chiêu văn Đại Vương Trần Nhật Duật, Nhân huệ vương Trần Khánh Dư, Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, Hoài văn hầu Trần Quốc Toản, Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, Danh tướng Trần Khát Chân, Tướng quân Nguyễn Chế Nghĩa, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Biểu, Tuệ trung thượng sỹ, Pháp Loa, Huyền Quang, Chưởng sử quan Lê Văn Hưu, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, thầy giáo xuất sắc Chu Văn An v.v… đã được khẳng định, được ghi chép mà chúng ta không mấy khó tìm trong các bộ quốc sử, trong các bộ sách nằm lòng, quen thuộc, có giá trị khoa học cao từ thời Trần, đến thời Nguyễn tỷ như: Đại Việt Sử ký, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Việt sử lược, Cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đông A liệt thánh tiểu lục, Kiến Văn tiểu lục v.v…

Hiện nay tại huyện Hưng Hà, Thái Bình vẫn còn ba ngôi mộ vua Trần nguyên vẹn.

Đến thời chúng ta – thời đại Hồ Chí Minh, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, giới sử học, văn hóa học cũng đã giành nhiều công sức nghiên cứu về nhà Trần-Vương triều Trần qua các nguồn sử liệu học, đặc biệt qua các kết quả thám sát, khai quật các di chỉ khảo cổ học có liên quan đến nhà Trần ở bốn địa phương quan yếu: Quảng Ninh, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình để một mặt góp phần vừa củng cố, vừa làm sáng rõ hơn công trạng, cũng như những di sản lịch sử - văn hóa mà nhà Trần tạo dựng được, để lại cho hậu thế và quan trọng hơn là bằng nhiều hình thức để đề cao, tôn vinh, bảo tồn sao cho ngang tầm với những cống hiến của nhà Trần-Vương triều Trần cho đất nước, cho quê hương; một mặt khác cũng đặt ra những vấn đề, những khía cạnh cần được nghiên cứu, làm sáng rõ ví dụ: Đất phát tích, đất dựng nghiệp của nhà Trần, Thái sư Trần Thủ Độ, con người và sự nghiệp; công tích của Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung, của các tướng tài, của những người có những công lao, đóng góp to lớn cho nhà Trần, cũng là cho đất nước, cho dân tộc v.v… Những vấn đề đó đều đã được giãi bày rất trung thực, rất khách quan ở các hội thảo khoa học, quy tụ hàng trăm các học giả, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý đại diện cho giới sử học, văn hóa học, bảo tàng học… công tác ở các cơ quan trung ương, ở các địa phương tham gia. Năm hội nghị, hội thảo khoa học đã được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học, phối hợp với Tỉnh ủy, UBND, hoặc Sở Văn hóa Thông tin đồng tổ chức. Đó là Hội thảo khoa học với chủ đề “Nhà Trần”, được tổ chức tại thành phố Nam Định, tỉnh Hà Nam Ninh vào năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XX; Năm 1986, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần” tổ chức tại thành phố Thái Bình (lần thứ nhất); năm 1994, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần” tổ chức tại thành phố Thái Bình (lần thứ nhất); Năm 1994, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Thân thế và sự nghiệp của Trần Thủ Độ” được tổ chức tại thành phố Thái Bình, nhân kỷ niệm 800 năm ngày sinh của Thái sư; Năm 1995, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Thời Trần và Hưng Đạo đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà” tại thành phố Nam Định; Năm 2000, Hội thảo khoa học với chủ đề: “Anh hùng dân tộc và thiên tài quân sự của Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định” cũng được tổ chức tại thành phố Nam Định; Năm 2003, Hội thảo khoa học (lần thứ 2 ở Thái Bình) với đề tài: “Thái Bình với sự nghiệp thời Trần”. Trừ hội thảo đầu, 4 hội thảo sau, tham luận của các nhà khoa học đều được in, xuất bản thành Kỷ yếu của hội thảo.

- Lần tìm và đọc lại các bài tham luận của các nhà khoa học, các ý kiến của các nhà khoa học được trình bày trong hội thảo, được in thành kỷ yếu, tôi có cảm nhận: Tuy còn có những dị biệt, tiểu dị, song về cơ bản, các nhà sử học, văn hóa học thời nay đánh giá rất cao công trạng của nhà Trần-Vương triều Trần trong sự nghiệp dựng xây đất nước và thật tiếc là chúng ta chưa có nhiều công trình lưu niệm, tưởng niệm, tôn vinh xứng tầm, nhất là ở Thái Bình. Về cơ bản, các nhà khoa học nhất trí nhận định rằng: Tiến Đức – Hưng Hà – Thái Bình không chỉ là quê hương bốn đời của họ Trần kể từ Trần Cảnh, mà còn là đất phát tích, đồng thời là đất khởi nghiệp của Vương triều Trần.

Nhà bia- Lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ tại xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, Thái Bình.

- Về thái sư Trần Thủ Độ, các sử gia thời phong kiến không ưa thích ông, không tiếc lời chê trách, mỉa mai ông như một quần thần vô học, có tài mà không có đức, có công với triều Trần, nhưng có tội với triều Lý. Thời cận đại, các nhà viết sử có đề cao công trạng của ông, nhưng do ảnh hưởng của đạo lý nho giáo lên án những hành vi của công mà họ xem là tàn ác với tôn thất nhà Lý, làm rối loạn, nhân luân trong hoàng tộc nhà Trần! Ngược lại lương dân lại có cách nhìn khác, họ đề cao và ghi nhớ công trạng của ông. Bằng chứng là không chỉ ở Thái Bình, quê hương, cũng là nơi khởi nghiệp họ Trần, có lăng mộ và đền thờ ông sau khi ông qua đời vào tháng Giêng năm Giáp Tý (1264), mà ngay tại quê hương nhà Lý, cũng như ở nhiều địa phương khác, nhân dân cũng dựng đền thờ, khắc bia ghi nhớ công ơn của ông. Hòa chung với cách nhìn, cách cảm, cách tôn vinh công trạng của Thái sư Trần Thủ Độ của nhân dân, các nhà khoa học đương đại của chúng ta căn cứ vào bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước hồi bấy giờ đã phân tích một cách khách quan, biện chứng và minh định rằng: Trần Thủ Độ là người có công dựng nước, có tài trị nước, Vua cũng ít khi dám làm trái ý, nhưng không vì thế mà ông lộng quyền, kéo bè, kéo cánh để khống chế triều đình. Ông là một nhà lãnh đạo mẫu mực hiếm có dưới chế độ quân chủ chuyên chế. Bản thân ông là một tấm gương tận tụy chăm lo việc nước. Có thể tóm lược công lao của ông với nước, với dân ở các điểm chính yếu như: Có công lớn trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh, thống nhất từ trung ương đến cấp cơ cở là xã. Ông là người đề cao tư tưởng pháp trị, định ra luật lệ, quy chế hành chính và gương mẫu thực hiện. Khuyến khích mọi người sống, làm việc theo đúng luật lệ; Đẩy mạnh công cuộc trị thủy, làm thủy lợi và khuyến khích phát triển nông nghiệp; Là người mở đầu cho tư tưởng dám đánh và quyết thắng của triều đình và quân dân thời Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ nhất ở thế kỷ XIII. “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Công nghiệp của ông xứng đáng được khắc ghi trên bia đá, ông xứng đáng được dựng tượng đồng nơi đô hội và ở quê hương ông để muôn đời cháu con hậu thế ngưỡng mộ.

Di tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung tại Đền thờ các Vua Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, Thái Bình.

- Về Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung, sử thần Ngô Sĩ Liên, tác giả bộ Quốc sử Đại Việt Sử ký toàn thư đã thốt lên rằng: “Thế mới biết trời sinh Linh từ là để mở nghiệp nhà Trần”. Quả đúng vậy, bà là nhịp cầu thứ nhất đưa họ Trần từ địa vị dân chài trở thành những cận thần của nhà Lý, rồi loại dần được những lực lượng chống đối, cùng Trần Thủ Độ đã làm một cuộc chuyển giao triều đại từ Lý, sang Trần mà không gây ra đổ máu, không gây ra đảo lộn lớn trong nước. Đó là sự kiện ngày 11 tháng chạp năm Ất Dậu (1226), tại điện Thiên An nữ chúa Lý Chiêu Hoàng, trút bỏ áo ngự mời Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế. Gạt bỏ tì vết về quan hệ hôn nhân cận huyết thống, giới khoa học của chúng ta nhận ra rằng: Vương từ quốc mẫu Trần Thị Dung có công lớn, góp phần quan trọng lập nên vương triều Trần, đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy loạn vào cuối Vương triều Lý. Hòa giải hiềm khích, đoàn kết nội bộ Vương triều để củng cố quyền lực, đánh dẹp các thế lực cát cứ, đẩy mạnh công cuộc xây dựng lại đất nước và đối phó với nguy cơ bị ngoại bang xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ nhất, bà giữ trọng trách tổ chức sơ tán, bảo vệ hoàng gia, bảo vệ vợ con các tướng sĩ, thực hiện triệt để chủ trương “vườn không nhà trống” đồng thời tích cực chăm lo việc thu thập vũ khí, quân lương gửi cho quân đội đánh giặc. Ngày nay ở các xã Cộng Hòa, Liên Hiệp, Phúc Khánh, Thái Đường thuộc huyện Hưng Hà – quê hương bà vẫn còn những tên làng mang địa danh gắn liền với cuộc sơ tán này như làng Nội (dành cho nội tộc nhà Vua ở), làng Triều Quyền (là nơi gia quyết Tiều thần ở), Làng Chúa (nơi ở của các công chúa), đình Ngự (là nơi Vua ở khi về thăm). Từ đó có thể rút ra kết luận: Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có tài tổ chức hậu cần, hậu phương trong chiến tranh giữ nước. Tên tuổi, sự nghiệp, công lao của bà thật sự cần phải được thể hiện ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Chân dung bà rất nên được dựng thành tượng đặt tại làng Ngừ - xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, thân đế tượng nên khắc lời ngợi ca: Trợ Lý, hương Trần phù ngự chúa - Cổ lai hãn kiến thử tài nhân (Giúp Lý, dựng Trần bà chúa Ngự. Xưa nay ít thấy người phụ nữ tài năng như vậy).

(Còn phần 2)

PGS. TS. Phạm Mai Hùng

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Bài viết khác

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và khai quật khảo cổ học của Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và khai quật khảo cổ học của Bảo tàng Lịch sử quốc gia

  • 01/03/2014 09:58
  • 3074

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là bảo tàng đứng đầu trong hệ thống bảo tàng Việt Nam. Mặc dù mới được thành lập, song, trước xu thế hội nhập và phát triển hôm nay, Bảo tàng đã rất chú trọng đến hợp tác quốc tế trong mọi hoạt động của mình. Công tác hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khai quật khảo cổ học thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng kể. Cùng với Viện Khảo cổ học và Khoa Lịch sử (Trường ĐHKHXH&NV), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là một trong ba cơ quan nghiên cứu khảo cổ học lớn của cả nước.