Thứ Bảy, 17/01/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

03/03/2016 17:35 7982
Điểm: 5/5 (2 đánh giá)
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có hai vị công thần trung thành, dũng cảm, tài giỏi là Yết Kiêu và Dã Tượng, đây là những vị anh hùng có công lớn giúp nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII. Có thể nói, trong lịch sử dân tộc Việt Nam, việc quân đội nhà Trần ba lần chặn đứng vó ngựa của đạo quân xâm lược khét tiếng hung hãn nhất thế giới, đã tạo ra một kỳ tích của một nước nhỏ nhưng không yếu, ghi dấu ấn vào trang sử vẻ vang về lòng dũng cảm chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Có được thành công đó, chính là nhờ vào tinh thần đoàn kết, bất khuất của những con người kể như rất đời thường, nhưng đã để lại cho lịch sử hôm nay và mai sau bài học sâu sắc về lòng quyết tâm chống giặc ngoại xâm và một tinh thần Việt Nam quật khởi. Câu chuyện về hai gia thần thân tín của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn khắc trong Mộc bản Đại Việt Sử ký toàn thư - Di sản tư liệu của thế giới đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV là một minh chứng anh hùng về con người và dân tộc Việt Nam.

Tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và 2 võ tướng Yết Kiêu, Dã Tượng (Ảnh internet)

Yết Kiêu là người có biệt tài thủy chiến. Dã Tượng là người có biệt tài thuần phục và chỉ huy đội voi rừng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, hai ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách, góp phần làm nên những chiến thắng lịch sử. Năm 1285, khi quân Nguyên ồ ạt kéo sang xâm lược nước ta lần thứ 2. Trong trận đánh này, đã ghi dấu trong lịch sử một câu chuyện hết sức cảm động về sự trung thành của Yết Kiêu đối với chủ tướng, đây cũng là nhân tố giúp cho đội quân Đại Việt thoát khỏi việc bị bao bây của quân giặc, từng bước giữ được thế trận, giành thắng lợi về sau. Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư đã khắc như sau: Trong trận chiến ở Bãi Tân, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dùng thuyền ra trận, ông giao cho Yết Kiêu ở lại giữ thuyền, còn Dã Tượng thì đi theo hộ vệ. Do sức mạnh của quân địch quá lớn, quân Trần đã không cản nổi bước tiến vũ bão của giặc, nên thủy quân đóng ở Bãi Tân làm chặn hậu cũng chạy tan tác cả, lúc này, Hưng Đạo Vương định rút lui theo đường núi. Dã Tượng thấy vậy liền thưa: “Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không chịu rời thuyền”. Hưng Đạo Vương liền quay lại Bãi Tân, quả nhiên thấy Yết Kiêu vẫn cắm thuyền đứng đợi, bất chấp hiểm nguy có thể xảy đến. Vừa vui mừng, vừa cảm động, Hưng Đạo Vương đã thốt lên rằng: “Chim hồng hộc muốn bay cao tất phải nhờ ở sáu trụ xương cánh. Nếu không có sáu trụ xương cánh ấy thì cũng chỉ như chim thường thôi”. Nói xong, liền lên thuyền mà đi, giặc không sao đuổi kịp. Hưng Đạo Vương rút về Vạn Kiếp, chia quân đóng giữ ở Bắc Giang.

Trong các cuộc chiến, Yết Kiêu còn dùng tài bơi lặn của mình để xâm nhập sâu vào hàng ngũ địch, đục thủng và đánh chìm các thuyền chiến của giặc, mang lại nhiều chiến công vang dội, đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Mùa đông, Yết Kiêu đã không quản giá rét, đêm đêm lặn xuống biển, nằm dưới đáy thuyền, lấy dùi sắt nhọn đục thủng thuyền. Thuyền giặc bị nước biển chảy ồ ạt vào, chìm ngay. Quân giặc sợ lắm. Lúc đầu chúng không hiểu vì lẽ gì. Sau giặc giăng lưới vây bắt được Yết Kiêu. Chúng hỏi ông: “Nước mày có bao nhiêu người có tài bơi lặn như mày?” Ông đáp: Nước Nam có rất nhiều người có tài bơi lặn như tôi. Hiện nay, họ vẫn ẩn nấp ở dưới biển để đục thuyền, chỉ có mình tôi chẳng may bị bắt. Nếu các ông tha tôi ra, tôi sẽ dẫn đến chỗ họ ẩn nấp. Bọn giặc tưởng thật, chúng lấy một chiếc thuyền nhẹ chở ông đi. Thừa lúc giặc sơ ý, ông liền nhảy xuống biển, lặn trốn về doanh trại, tiếp tục cùng quân dân ta đánh giặc cứu nước.

Năm 1288, trên đường hành quân chuẩn bị cho trận Bạch Đằng lịch sử, con voi chở Hưng Đạo Đại Vương bị sa lầy, chìm dần xuống bùn. Dù đã dùng nhiều cách nhưng rồi con voi chiến thân thiết của Hưng Đạo Vương cứ lún dần, lún dần. Dã Tượng và Hưng Đạo Vương nhìn người bạn đường chiến đấu sắp hy sinh mà quặn lòng đau xót. Dã Tượng bèn quỳ xuống trước mặt Hưng Đạo Vương xin người lên ngựa đi tiếp cho kịp ra quân, còn mình ở lại rồi sẽ đuổi theo sau. Trong trận đánh đó, Dã Tượng giữ một cánh quân trên núi Tràng Kênh, đánh tan đám quân của Phàn Tiếp, máu giặc nhuộm đỏ cả khúc sông, Dã Tượng chiến đấu với địch như chỗ không người, khiến cho Phàn Tiếp khiếp sợ bỏ lính, để nguyên tên găm trên người nhảy xuống sông chạy trốn, nhưng vẫn bị quân Trần bắt sống. Trận quyết chiến Bạch Đằng thắng lợi, toàn bộ đạo quân của địch đã bị tiêu diệt và bị nhấn chìm trong sóng nước. Cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân dân Đại Việt giành được thắng lợi rực rỡ. Từ đó giặc Nguyên Mông từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta.

Về Yết Kiêu, Theo Báo Hải Dương viết: ông tên thật là Phạm Hữu Thế, con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò. Dân gian truyền lại: năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu trắng húc nhau liền dùng đòn ống đánh đuổi, can ngăn. Hai con trâu biến mất, Hữu Thế thấy có hai chiếc lông còn dính vào đòn ống, đặt xuống nước, nước rẽ ra làm đôi. Cho đây là lông trâu thần, ông liền nuốt vào bụng. Từ đấy, Phạm Hữu Thế có thân thể hùng cường, trí lực, bơi lội tài giỏi, đi trong nước như ở trên đất bằng vậy. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần hai và lần ba, Phạm Hữu Thế với tài bơi lội “nhập thuỷ như phúc bình địa hỹ” (đi dưới nước ung dung, tự tại như trên đất bằng) đã lập nhiều công lao lớn, được vua ban danh hiệu Trần triều đệ nhất đô soái thuỷ quân. Ông đã được nhân dân và vua quan nhà Trần gọi là Yết Kiêu (tên một loài cá lớn ngày xưa).

Nhiệm vụ của Yết Kiêu là tìm cách đục thuyền của giặc trong đêm. Khi màn đêm buông xuống, Yết Kiêu tìm cách vượt qua hàng lính bảo vệ thuyền giặc rồi nhẹ nhàng đục thuyền giặc. Mỗi thuyền phải đục khoảng trên 20 lỗ, đục được lỗ nào lại phải dùng giẻ đã cuộn tròn và buộc dây đút lút lại. Những cuộn giẻ ấy đều được buộc lại với nhau bằng một sợi dây. Một đêm, Yết Kiêu đục được khoảng 30 thuyền giặc. Đến gần sáng khi đã đục đủ số thuyền đã định, Yết Kiêu liền kéo dây khiến những nút giẻ trôi ra khỏi thuyền, khiến hàng chục thuyền giặc bị đắm. Hoàn thành nhiệm vụ, ông lại nhẹ nhàng bơi về địa điểm an toàn. Có lần, Yết Kiêu bị vây bắt ở bãi sông. Ông núp mình dưới những bụi cây mọc lúp xúp và tránh sự lùng sục gay gắt của giặc. Chúng dùng kiếm đâm vào bụi cây, trúng đùi Yết Kiêu. Yết Kiêu cắn răng chịu đựng, khi kẻ thù rút kiếm ra, ông cố gắng chịu đau và dùng tay lau vết máu dính trên lưỡi kiếm để kẻ thù không phát hiện thấy.

Sau kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, Bảng nhãn Lê Đỗ được triều Trần cử sang Nguyên triều đi sứ, mong nối lại hoà khí với nước mạnh hơn mình mà mang lại hoà bình cho nhân dân đất Việt. Yết Kiêu vốn là võ tướng thuỷ quân được cử làm tướng hộ vệ Lê Đỗ. Trong lần đi sứ ấy, vua Nguyên rất mến mộ tài năng của Yết Kiêu liền tỏ ý muốn gả công chúa Nguyên triều vốn rất xinh đẹp cho ông. Ông liền từ chối khéo và thưa rằng để trở về tâu xin vua Đại Việt, nếu vua Đại Việt đồng ý thì sẽ xin sang Nguyên triều làm lễ cưới. Trở về đất nước, vua quan triều Trần lo lắng sẽ mất một viên tướng tài giỏi nên không đồng ý. Công chúa Nguyên triều đợi mãi không thấy Yết Kiêu sang thì xin vua cha cho sang đất Đại Việt để làm lễ thành hôn với Yết Kiêu. Biết tin này, vua quan nhà Trần muốn ngăn cản cuộc hôn nhân, đã báo tin Yết Kiêu qua đời khi công chúa Nguyên triều mới đi đến vùng biển Quảng Đông giáp biên giới Đại Việt. Công chúa vô cùng thương xót Yết Kiêu, bèn thuê người tạc tượng mình thả xuôi sang nước ta, lập đàn cầu siêu cho linh hồn Yết Kiêu bên bờ biển tỉnh Quảng Đông và cầu nguyện: “Thiếp và chàng sống trên trần thế chưa nên duyên chồng vợ, nay chàng không còn nữa, thiếp nguyện thác xuống âm phủ để gặp chàng và nên nghĩa vợ chồng”, rồi gieo mình từ đàn cầu siêu xuống biển Quảng Đông để tỏ lòng chung thuỷ. Hai võ quan và chín nàng hầu cũng nhẩy xuống biển tự vẫn để theo hầu công chúa...

Đền Quát tại thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, Hải Dương – nơi thờ danh tướng Yết Kiêu. (Ảnh internet)

Yết Kiêu mất ngày 28 tháng chạp năm Ất Sửu (1303), hưởng thọ 61 tuổi. Khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ ở bờ sông Hạ Bì quê ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ XVII- XVIII được tôn tạo khang trang và tu sửa nhiều lần vào triều Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng quốc gia (28-1-1989). Lễ hội đền Quát thường diễn ra vào rằm tháng giêng và rằm tháng tám. Vào dịp này, nhân dân địa phương và khách thập phương lại trở về vùng sông nước Hạ Bì, trước là lễ tạ thành hoàng Yết Kiêu, sau là dự hội làm bánh, hội đua thuyền ... Tại lễ hội có lễ tế công chúa Nguyên triều, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.

Từ câu chuyện lịch sử về Yết Kiêu và Dã Tượng, cho thấy sức mạnh của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ lòng yêu nước trong từng cá nhân, dù họ chỉ là những gia nô, nhưng với chí khí đấu tranh bất khuất, tinh thần đoàn kết và lòng trung thành tuyệt đối đã giúp cho đội quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn bách chiến bách thắng, ba lần đánh thắng đạo quân xâm lược hung hãn nhất thời đại, quét sạch bè lũ xâm lược ra khỏi bờ cõi, đem lại hòa bình ấm no cho nhân dân. Yết Kiêu và Dã Tượng đã trở thành những vị anh hùng tận trung vì đại nghĩa cứu nước, xứng đáng sánh ngang hàng với các bậc hào kiệt trong lịch sử, là những tấm gương sáng cho các thế hệ mai sau.

Minh Vượng (tổng hợp)

Nguồn:

-Tài liệu của Phạm Thị Yên (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV).

- Báo Hải Dương 6/2012.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 6561

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Sáng danh con cháu Bà Trưng

  • 02/03/2016 00:04
  • 3536

Người Hà Nội thời kháng chiến chống thực dân Pháp thường nhắc đến bà Phạm Thị Vân với tất cả sự trân trọng, biết ơn. Là người bạn đời, là đồng chí của ông Quản Xuân Nam, bà đã góp phần không nhỏ vào hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ (năm 1938); bà cũng là người phụ nữ kiên trung hoạt động trong lòng địch, nuôi giấu cán bộ chủ chốt của Thành ủy, quận ủy nội thành, đồng thời là cơ sở để in báo Nhựa Sống, cơ quan ngôn luận của Đoàn Học sinh kháng chiến Hà Nội năm 1950-1951.