Thứ Sáu, 23/01/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/11/2015 10:49 5150
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong căn phòng nhỏ ở số nhà 72 Thợ Nhuộm, Hà Nội bộn bề tranh, màu, toan… hoạ sĩ Phan Kế An cho tôi xem những tư liệu về người Cha thân yêu của mình - nhân sĩ yêu nước Phan Kế Toại. Và tôi thật bất ngờ khi được biết cụ đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó trọng trách Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng tối cao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Người nhân sĩ yêu nước

Đường Lâm, xưa còn gọi là Kẻ Mía, đất của hai Vua - hai anh hùng dân tộc - Phùng Hưng và Ngô Quyền, cũng là nơi đã sinh ra nhiều anh tài, danh nhân nổi tiếng như Thám hoa Giang Văn Minh…Dòng họ Phan định cư lâu đời ở Đường Lâm, những người có học vấn, ra làm quan, để lại tiếng thơm thanh liêm cho con cháu noi theo.

Phan Kế Toại sinh ngày 3-2-1892 ở làng Mông Phụ, là con trai thứ ba của cử nhân Phan Kế Tiến. Con đường quan lại đã được cha ông làm quan Tuần phủ Phúc Yên, định hướng cho Phan Kế Toại khi vào học trường Hành chính thuộc địa - trường đào tạo quan lại thuộc địa của Pháp trong ba năm (1911-1914). Tại Kinh đô ánh sáng này, ông đã may mắn được gặp Nguyễn Ái Quốc năm 1911. Và ý tưởng học để giúp dân, cứu nước đã được xác định từ rất sớm trong trái tim yêu nước giàu nhiệt huyết của những thanh niên tiếp thu tri thức mới “tây học” như luật sư Phan Anh, luật sư Nguyễn Mạnh Hà…Con đường quan lộ hanh thông, làm Tri huyện rồi Tuần phủ, Tổng đốc các tỉnh Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Kiến An, Nam Định, Lạng Sơn, Phúc Yên, Bắc Ninh, Thái Bình. Ở đâu, cụ cũng trọng hai chữ “An dân”, lấy đạo nghĩa nhân làm gốc. Năm 1944, lúc còn làm Tổng đốc Thái Bình, Phan Kế Toại đã ngầm ủng hộ Việt Minh bằng cách trao một tín phiếu 500 đồng bạc Đông Dương qua ông Nguyễn Công Liệu là một cán bộ Việt Minh.

Làm quan Khâm sai đại thần trong chính phủ Trần Trọng Kim trong buổi giao thời của lịch sử, Cụ cũng như Luật sư Phan Anh, bác sĩ Trần Văn Lai, những trí thức Tây học có lòng yêu nước, thương nòi vẫn ngộ nhận sức mạnh của cường quốc Nhật Bản “đồng chủng, đồng văn, giúp ta đánh Pháp”; và đi theo chủ thuyết cứu nước mà họ không biết rằng chủ thuyết ấy đã lỗi thời. Nhưng cũng may mắn và kỳ diệu thay; chính lòng yêu nước chân chính đã đưa họ đến với cách mạng.

Cụ đã sớm nhận ra bộ mặt tàn ác của phát xít Nhật. Khi quân Nhật ép Cụ phải dụ dân chúng nhổ lúa trồng đay và nộp thóc cho Nhật, Cụ đã cáo ốm tỏ thái độ bất hợp tác; sau đó, cụ ủng hộ Việt Minh bằng cách mua tín phiếu 500 đồng Đông Dương. Cụ không ngăn cản mà còn ủng hộ nhóm bạn bè của con trai mình là Phan Kế An đang học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (lúc này trường sơ tán về Sơn Tây) hoạt động trong mặt trận Việt Minh - cất giấu súng đạn trên trần nhà của gia đình ở Đường Lâm. Những cuộc gặp gỡ của đại diện của Việt Minh - ông Lê Trọng Nghĩa (lúc đó là cán bộ Xứ uỷ, Bí thư Đảng đoàn Dân chủ Đảng) với Thủ tướng Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim ngay tại Phủ Khâm sai đã gieo vào tâm trí Cụ nhiều nhận thức mới mẻ về sức mạnh của dân tộc, của Việt Minh trong thời cuộc thế giới. Sau những cuộc tiếp xúc trên, Cụ đã từng nói với Trần Trọng Kim “thế và lực của Việt Minh rất mạnh” để Trần Trọng Kim suy nghĩ giải pháp bắt tay với Việt Minh đánh Nhật – Pháp. Sau nhiều lần đệ đơn xin từ chức, đúng ngày 17/8/1945, triều đình Huế mới cho cụ Phan Kế Toại từ chức - đó cũng là thời điểm quan trọng khi người Hà Nội đã vùng lên, sôi sục như trào dâng thác cuốn không gì ngăn cản được. Tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh” của dòng người rầm rập từ quảng trường Nhà Hát lớn kéo qua vườn hoa Diên Hồng (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ) dội vào Phủ Khâm Sai. 22 giờ đêm, cụ Phan Kế Toại triệu tập cuộc họp cấp tốc gồm quan một bảo an binh Nguyễn Sĩ Là và ông chánh quản Lại, dặn mọi người: khi cách mạng vào giành chính quyền thì phải mở cổng và không được nổ súng. Rời khỏi Phủ Khâm Sai, cụ đến căn nhà của gia đình ở Hàng Bột. Đêm ấy, đêm không ngủ của người Hà Nội, xông lên đoạt trời dội vào tâm tư của người nhân sĩ yêu nước…Cụ trở về quê hương Đường Lâm.

Dốc lòng cho cuộc kháng chiến.

Năm 1947, Đường Lâm bị giặc Pháp chiếm đóng, Cụ Phan Kế Toại cùng gia đình tản cư lên Thanh Lũng, thuộc Sơn Tây. Với tầm nhìn xa, trông rộng và chủ trương thực hiện đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời các nhân sĩ, trí thức yêu nước tham gia Mặt trận Liên Việt và bộ máy nhà nước. Giữa năm 1947, nhận được thư tay của Chủ tịch gửi người mang đến, Cụ Phan Kế Toại vô cùng cảm kích, đã khăn gói lên đường đến Việt Bắc trước chiến dịch Thu đông mở màn, sau đó, cụ nhậm chức Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng tối cao nước Việt Nam DCCH. Đến nay, hoạ sĩ Phan Kế An vẫn lưu giữ được bản sao sắc lệnh số 206 ngày 19/8/1948 của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng tối cao do Người làm Chủ tịch hội đồng; ông Lê Văn Hiến làm phó chủ tịch; ông Phan Kế Toại - quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ông Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm uỷ viên.

Các thành viên Hội đồng Chính phủ kháng chiến ở Việt Bắc, năm 1951.

Trong ảnh, hàng ngồi từ trái qua phải: Linh mục Phạm Bá Trực, cụ Phan Kế Toại, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Tôn Đức Thắng, đồng chí Hoàng Đạo Thúy.
(Ảnh tư liệu BTLSQG)

Được vị Chủ tịch nước khơi đúng mạch nguồn, với lòng yêu nước, tận tuỵ trong công tác, cụ Phan Kế Toại đã dốc sức cùng Hội đồng Quốc phòng nghiên cứu kế hoạch kháng chiến toàn diện để đệ trình Chính phủ phê duyệt. Đến nay, ngôi nhà ở Đường Lâm còn rất nhiều kỷ vật của cụ trong những năm ở rừng Việt Bắc và những bức ảnh quý chụp trên chiến khu được trang trọng trưng bày như là bảo tàng của gia tộc họ Phan ở làng cổ.

Phó thủ tướng Phan Kế Toại nói chuyện với nữ anh hùng Nguyễn Thị Khương tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua lần thứ Hai, năm 1958. (Ảnh tư liệu BTLSQG)

Năm 1955, trở về thủ đô Hà Nội thân yêu, cụ được giao làm uỷ viên Đoàn chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, làm việc cùng với các nhân sĩ trí thức Hà Nội như bác sĩ Trần Văn Lai, bác sĩ Phạm Khắc Quảng…Ngày 20/9/1955, Cụ được giao trọng trách Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ suốt hai nhiệm kỳ 1955-1958; 1958-1961. Và Cụ tiếp tục giữ chức vụ Phó Thủ tướng thêm 2 nhiệm kỳ nữa cho đến khi qua đời năm 1973. Giữ đức thanh liêm, Cụ trả lại ngôi nhà rất rộng của Nhà nước phân phối cho, xin đổi ngôi nhà khác bé hơn. Là Phó Thủ tướng, tiêu chuẩn của cụ được đi một chiếc xe to, nhưng thấy lãng phí, cụ lại xin đổi sang một chiếc xe khác nhỏ hơn.

Cụ mất ngày 26-6-1973 trong niềm thương tiếc của mọi người. Trong ngôi nhà cổ của dòng họ, con cháu vẫn như thấy bóng dáng Cụ qua những kỷ vật thân quen. Người dân Đường Lâm nhắc về Cụ với tình cảm đầy trìu mến, tự hào với cái tên dung dị thường nhật: Cụ Toại.

Ghi nhận công lao của cụ đóng góp cho cách mạng, ngày 24-8-2009, Cụ Phan Kế Toại được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Phạm Kim Thanh

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

Nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh (1922-2010)

  • 08/07/2019 14:36
  • 6592

Duyên nghiệp sử sách cho tôi nhiều dịp may hiếm có, ví như bỗng một ngày, tôi được gặp nhà văn, nhà viết kịch Hoàng Công Khanh ở tọa đàm về cuộc đấu tranh của những người yêu nước và cộng sản ở nhà tù Sơn La do cụ Nguyễn Văn Trân tổ chức vào hè năm 2007. Không thể hình dung được ông nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng, dáng cao manh mảnh, đôi mắt tinh anh, lại đã từng bị tù ở Sơn La cùng với bí thư chi bộ nhà tù Trần Huy Liệu.

Bài viết khác

Đôi điều về Hoàng Thái hậu Từ Dũ

Đôi điều về Hoàng Thái hậu Từ Dũ

  • 28/10/2015 11:15
  • 49618

Hoàng Thái hậu Từ Dũ (hay Từ Dụ) tên húy là Phạm Thị Hằng, tên tự là Nguyệt, Thường hoặc Hào, sinh ngày 9 tháng 5 năm Canh Ngọ (1810) tại Giồng Sơn Quy (Gò Rùa), làng Gò Công, huyện Tân Hòa, tỉnh Gia Định (sau thuộc huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang). Bà là trưởng nữ của Lễ bộ Thượng thư Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng và bà Phạm Thị Vị.