Đồng chí Trường Chinh là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam ở thế kỷ 20. Ông là một trong những học trò xuất sắc, bạn chiến đấu gần gũi, tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh năm 1907 ở làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Từ 1925, chàng trai thành Nam đã tham gia cuộc vận động đòi ân xá cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Năm 1926, ông là một trong những người lãnh đạo cuộc bãi khóa để truy điệu nhà yêu nước Phan Chu Trinh ở Nam Định. Sau khi bị đuổi học, ông đã lên Hà Nội tiếp tục học Cao đẳng Thương mại đến năm 1929.

Đồng chí Trường Chinh- Tổng Bí thư, phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa vũ trang năm 1945.
Năm 1927, ông gia nhập Hôi Việt Nam Thanh niên Cách mạng - tổ chức tiền thân của Đảng. Năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương ở Bắc kỳ. Năm 1930, được chỉ định vào Ban tuyên truyền, cổ động của Đảng. Sau đó, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 12 năm tù cấm cố, đày đi nhà tù Sơn La. Do thắng lợi của mặt trận Bình dân Pháp và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, ông được trả tự do sau 6 năm bị đọa đày trong nhà tù khét tiếng tàn ác của thực dân Pháp. Không một phút ngơi nghỉ, ông tiếp tục hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp ở Hà Nội, rồi được bầu là ủy viên xứ ủy Bắc kỳ. Đất nước ta những năm cuối thập kỷ 30 và đầu thập kỷ 40 rất gian nguy. Liền trong thời gian ngắn, ba cuộc khởi nghĩa, nổi dậy của quần chúng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu: Bắc Sơn (27/9/1940); Nam Kỳ (23/11/1940); Đô Lương (13/1/1941). Nhiều người yêu nước và nhân dân bị bắt bớ, tù đầy, tra tấn và giết hại. Năm 1940, Trường Chinh được xứ ủy Bắc kỳ cử làm chủ bút báo Giải Phóng cơ quan ngôn luân của Xứ ủy. Tại Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương.
Ngày 8/2/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyên Ái Quốc đã bí mật về nước ở vùng Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 ở Pắc Bó, từ 10 đến 19/5/1941.Tham gia hội nghị có: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và một số đại biểu của xứ ủy Bắc kỳ, Trung kỳ và đại biểu hoạt động ở ngoài nước. Trong bối cảnh lịch sử thời điểm ấy, hội nghị Trung ương 8 có tầm quan trọng một Đại hội Đảng, đặc biệt có sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị chính thức bầu Trường Chinh làm Tổng Bí thư. Hội nghị lịch sử này đánh dấu sự chuyến biến cực kỳ quan trọng về chỉ đạo chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đồng chí Trường Chinh được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Di tích lịch sử lán Khuổi Nặm- nơi diễn ra Hội nghị Trung ương 8 (từ ngày 10-19/5/1941) đã quyết định đườnglối lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Hội nghị phân tích tình hình thế giới trong bối cảnh cuộc đại chiến thế giới lần thứ 2 chống phátxít và tình hình trong nước, quần chúng căm thù tột độ kẻ thù xâm lược và bọn tay sai; khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là tập trung các lực lượng cách mạng vào mũi nhọn đánh đổ phát xít Nhật, thực dân Pháp, giành cho được độc lập dân tộc.
Tổng Bí thư Trường Chinh và các đại biểu đã được trực tiếp lắng nghe sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Chấp hành chỉ thị của Bác, lời đề nghị của Người là thành lập Mặt trận dân tộc mới, lấy tên “Việt Nam Độc lập đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh. Cương lĩnh, tôn chỉ, chương trình Việt Minh là đoàn kết thật rộng rãi, mọi tầng lớp, thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc. Ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc được phất cao hơn bao giờ hết. Những năm tháng sau đó, quần chúng được khơi dậy khí thế cách mạng đi sâu vào hoạt động trong các tổ chức cứu quốc do Đảng lãnh đạo. Lúc này, phát xít Nhật và thực dân Pháp câu kết với nhau: bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, vơ vét của cải dân chúng cho bộ máy chiến tranh của chúng và tiến hành những cuộc bắt bớ, đàn áp.
Từ tháng 8-1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi Trung Quốc và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, toàn bộ nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong nước tập trung chủ yếu vào đồng chí Trường Chinh, lúc này là Tổng Bí thư. Từ ngày 25 đến 28-2-1943, Tổng Bí thư Trường Chinh đã triệu tập Ban Thường vụ Trung ương tại Võng La, Đông Anh, Phúc Yên để bàn việc mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Cũng tại Hội nghị này, Ban Thường vụ đã thông qua Đề cương Văn hóa Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trực tiếp dự thảo. Đây là Bản Đề cương quan trọng đề ra đường lối phát triển nền văn hóa Việt Nam. Cho đến giờ, Đề cươngVăn hóa này vẫn còn nguyên những giá trị cơ bản với 3 nguyên tắc cơ bản: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa.
Ngày 15-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, nhận thấy thời cơ khởi nghĩa đã đến, Tổng Bí thư Trường Chinh và Ban Thường vụ triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân để quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị toàn quốc diễn ra từ ngày 13 đến 15-8-1945 tại Tân Trào, Thủ đô khu giải phóng dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường Chinh. Ủy ban Khởi nghĩa được thành lập do đồng chí Trường Chinh phụ trách.

Đình Tân Trào, nơi diễn ra cuộc họp Đại hội quốc dân, quyết định Tổng khởi nghĩa.
Ngay sau Hội nghị Toàn quốc của Đảng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì; ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân đã họp dưới sự chủ trì của lãnh tụ Hồ Chí Minh ở đình Tân Trào, Tuyên Quang. Tổng Bí thư Trường Chinh thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày Kế hoạch Tổng khởi nghĩa của Đảng. Sau Đại hội, nhân dân cả nước vùng lên khởi nghĩa. Đến ngày 25-8-1945, cuộc Tổng Khởi nghĩa giành chính quyền đã thắng lợi trọn vẹn. Sau này, nhớ lại thời kỳ mấy năm hoạt động quan trọng đó, nhất là trong gần 3 năm vắng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một người bạn thân thiết, thủy chung của đồng chí Trường Chinh đã đánh giá cao tài năng lãnh đạo sắc sảo, quyết đoán và đúng đắn của vị Tổng Bí thư Trường Chinh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại: “Từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1944, Bác Hồ đi vắng, có thời gian khá dài, không có tin tức, trên cương vị Tổng Bí thư, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, anh Trường Chinh đã đảm nhiệm trọng trách lãnh đạo phong trào và đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Nổi bật nhất là anh dự báo việc Nhật Pháp bắn nhau và sớm thay mặt Thường vụ Trung ương thảo ra Chỉ thị: “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Cùng với Lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, bản chỉ thị ấy đã chỉ rõ thời cơ đang đến, khả năng thời cơ xuất hiện và thái độ của ta nên như thế nào... Chỉ thị ấy có tác dụng quyết định trong việc động viên, hướng dẫn toàn Đảng trong cao trào chống Nhật cứu nước. Khi thấy thời cơ đến, anh Trường Chinh triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc kỳ để thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng. Bác về nước thấy thời cơ đến gấp đã chỉ thị cho tôi, sớm nhất là tháng 4, chậm nhất là tháng 7, phải bắt liên lạc với anh Trường Chinh và các cán bộ chủ chốt ở trong nước để triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương, tiếp đó là Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào vào tháng 8/1945 quyết định Tổng khởi nghĩa, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng, sau này thành Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam.

Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngay đêm 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa đã ra Quân lệnh số 1 kêu gọi Tổng khởi nghĩa... Chỉ trong hơn 10 ngày, Cách mạng tháng Tám đã thành công trong cả nước. Đó là sự kiện có một không hai trong lịch sử". Trong thời gian này, Tổng Bí thư Trường Chinh còn viết rất nhiều bài báo có tính chất xã luận với những lập luận và logic hết sức sắc sảo, nhạy bén, kịp thời cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta.

Quân Lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa phát lệnh Khởi nghĩa vào lúc 11 giờ đêm ngày 13-8-1945.
Bên cạnh Hồ Chủ tịch, được Người dẫn dắt, đồng chí Trường Chinh nổi bật như một ngôi sao sáng trên bầu trời Cách mạng tháng Tám. Vị Tổng Bí thư với 38 tuổi đời có phong cách của một trí thức, cẩn trọng, nghiêm túc, nhân hậu, giàu sáng tạo và đầy sức thuyết phục. Lúc sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhấn mạnh: “Công lao anh Trường Chinh rất to lớn. Bác Hồ là linh hồn của Cách mạng Việt Nam, của kháng chiến. Trên cương vị Tổng Bí thư, anh Trường Chinh không chỉ chú trọng chỉ đạo những công tác chung mà còn coi trọng chỉ đạo công tác quân sự. Có nhiều hội nghị quân sự, anh Trường Chinh trực tiếp chủ trì với cương vị thay mặt Ban Chấp hành Trung ương. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Hai, anh Trường Chinh, dưới sự chỉ đạo của Bác đã hoàn chỉnh lý luận về con đường cách mạng ở Việt Nam, con đường giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội... Anh hết sức chú trọng mặt kiến quốc...”.
Tổng Bí thư Trường Chinh (người thứ 2 bên phải) trên Lễ đài tại Lễ Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 2-9-1945.

Đồng chí Trường Chinh(giữa) và các đồng chí Phạm Văn Đồng(người đứng) và Võ Nguyên Giáp (ảnh chụp ngày 2-9-1945).
Khi đất nước còn chìm đắm trong máu lửa, gông xiềng nô lệ, được sự dẫn dắt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh đã có những cống hiến to lớn cho cách mạng, cho dân tộc, ở vào những thời điểm vô cùng quan trọng, góp phần xuất sắc đưa cao trào Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 tới thắng lợi huy hoàng. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng đã viết: “Trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, từ năm 1941, cùng với Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng chí Trường Chinh đã có nhiều quyết sách đúng đắn, sáng tạo, nhất là trong những bước ngoặt của cách mạng. Vai trò của đồng chí nổi bật là một trong những người lãnh đạo kiệt xuất đã đưa cuộc Cách mạng tháng Tám đến thành công”.
Minh Vượng
Nguồn:
- Đồng chí Trường Chinh- NXB Thông tấn, Hà Nội, 2007.
- Ðồng chí Trường Chinh - người cộng sản mẫu mực, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng nước ta (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 08/02/2007)