Đầu thế kỷ XX, trong phong trào Duy tân, Cụ cử Lương Văn Can (1854-1927), người sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, là một trong những trụ cột của nhà trường và cụ giữ vai trò quan trọng để tụ hội về Hà Nội những gương mặt trí thức tiêu biểu của đất nước những năm đầu thế kỷ trước.
Về thăm từ đường của gia tộc nhà chí sĩ yêu nước tại làng Nhị Khê, Thường Tín, thắp nén hương thơm trước di ảnh vợ con cụ, tôi mới hiểu, cả gia đình cụ đã hy sinh cho công cuộc canh tân đất nước đầu thế kỷ XX. Kỷ niệm 110 năm phong trào Đông Kinh nghĩa thục(1905-2015), trong bài viết này, chúng tôi bổ sung thêm tư liệu, để độc giả thấy rõ hơn những đóng góp quan trọng của cả gia đình cụ Cử cho công cuộc Duy Tân đất nước.

Lương Văn Can(1854-1927).
Người bạn đời, người đồng chí kề vai sát cánh cùng Lương Văn Can, cụ bà Lê Thị Lễ(1857-1927).
Cụ bà Lê Thị Lễ (1857-1927) là con cụ Tú kép Lê Đức ở xã Bình Vọng (phủ Thường Tín). Khi cụ thành hôn với Lương Văn Can, cha mẹ cho cụ cửa hiệu Quảng Bình An, chuyên bán vải ở phố Hàng Ngang làm của hồi môn.
Theo gương các nhà chí sĩ Nhật Bản đã cải cách thành công, đưa đất nước phát triển hùng cường, các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí chủ trương thành lập ở Hà Nội một trường học lớn, từ đó sẽ phát triển thành phong trào học tập, tiếp thu văn minh thế giới, mở mang dân trí, chấn hưng văn hoá đất nước, làm cho nước nhà giàu mạnh. Tháng 3/1907, trường Đông kinh Nghĩa thục (ĐKNT) được mở ngay tại nhà cụ Lương Văn Can ở số 4 Hàng Đào, sau đó mở rộng sang số 10. ĐKNT nhanh chóng lan ra các làng xã với 4 cơ sở ở Canh, Tây Mỗ, Chèm (Từ Liêm), Tân Hội (Đan Phượng) do các thành viên của ĐKNT phụ trách và giảng dạy. Cơ sở trường lớp và việc in ấn sách giáo khoa cho học viên, sách dịch thuật và tài liệu tuyên truyền diễn thuyết cho giảng viên đều do cụ Lương Văn Can phụ trách tài chính nhà trường lo toan. Kinh phí cho mọi hoạt động của ĐKNT thiếu thốn, cụ Lê Thị Lễ đã bán cả cửa hiệu Quảng Bình An, ủng hộ ĐKNT, trang trải chi phí in sách và tổ chức cổ động, tuyên ttruyền học chữ quốc ngữ của trường. Nhớ lại việc này, cụ kể: “Tuy đã nói lời cổ vũ để cho ông theo trọn con đường phụng sự Tổ quốc, vậy mà khi cầm bút ký giấy phát mại bất động sản thì tay tôi cứ run lên; bởi vì có bao giờ tôi dám nghĩ đến việc phải bán tài sản của tiền nhân để lại”.
Tháng 12/1907, ĐKNT buộc phải đóng cửa, cụ Lương Văn Can bị thực dân Pháp đày biệt xứ sang Nam Vang (Cămpuchia), còn con trai Lương Ngọc Quyến bị bắt trong cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, nhưng bà vẫn kiên cường vượt qua bao nỗi đau gia đình. Trước toà đại hình của thực dân, cụ đã hỏi bọn quan toà: “Từ thuở còn là bào thai, chúng tôi đã dạy con về tình yêu thương giống nòi, chủng tộc, bởi vậy, con tôi theo đuổi mục đích cứu nước là hợp đạo lý của gia đình và của đất nước chúng tôi, sao lại gọi là phản loạn? Và bà động viên con trai: Mẹ chỉ mong con xứng đáng là con dân của nước Việt đến hơi thở cuối cùng. Cụ bà rất xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam anh hùng, là người cùng chồng gánh vác việc nước với lòng yêu nước thương nòi sâu sắc.

Cụ bà Lê Thị Lễ (1857-1927).
8 năm chồng bị lưu đày ở Nam Vang (1913-1921), và sau đó, ngày 21/8/1921, cụ ông được về nước, cụ bà Lê Thị Lễ vẫn quán xuyến mọi việc cho chồng đèn sách, biên soạn các cuốn sách trong thời gian bị lưu đày như Gia Huấn, Hán học tiệp kính, Hán tự quốc âm… Từ năm 1921, cụ biên soạn Lương gia thứ chi gia phả, sau đó, cụ cùng với cụ Ngô Đức Kế tập hợp các tác phẩm của Phan Chu Trinh, xuất bản ba tập Phan Tây Hồ di thảo (1926). Đặc biệt, năm 1924, bà lại cùng ông xây dựng trường cho quê hương Nhị Khê. Lương Văn Can đã dành những lời trân trọng nhất trước linh cữu người vợ tao khang, đảm đang việc nhà, lo cùng chồng việc nước .…Cảm phục bà, trong tang lễ đưa bà về với tổ tiên (ngày 24/4/1927 tức 23 tháng 3 năm Đinh Mão), Dương Bá Trạc đã viếng đôi câu đối:
Tân khổ vị tông bang, tư tử vọng phu, song nhiệt lệ.
Ái ưu hữu hiền trợ, thành nhân thủ nghĩa, nhất đan tâm.
Dịch nghĩa:
Xót đau vì giống nòi đất nước,thương con, ngóng chồng tuôn đôi hàng lệ nóng.
Trọn lẽ lo toan bán buôn tài đảm, nên người giữ nghĩa một lòng son(1).
Những chiến sĩ tiên phong của phong trào canh tân, cứu nước.
Đó là các con trai, con gái, con dâu của Lương Văn Can theo gương cha đã cống hiến tuổi xuân cho sự nghiệp canh tân để góp phần cứu nước.
Con trưởng Lương Trúc Đàm, đỗ cử nhân năm 1903. Năm 1905, hưởng ứng chủ trương du học của Phan Bội Châu, ông cùng cha bố trí cho hai em là Lương Ngọc Quyến và Lương Ngọc Nhiễm sang Nhật học. Năm 1907, ông là một trong những sáng lập viên của ĐKNT và hoạt động cả ba Ban của trường: cổ động, giáo dục, tu thư. Sách Nam quốc địa dư bằng chữ Hán do ông biên soạn vừa làm sách giáo khoa, vừa làm tài liệu tuyên truyền cổ động diễn thuyết của ĐKNT được nhiệt liệt hoan nghênh, vì thế, năm 1908, sách đã được tái bản. Tháng 5/1908, khi Phan Chu Trinh bị thực dân Pháp giải từ Hà Nội vào Huế, giao cho toà án Nam triều kết án, đày đi Côn Đảo, Lương Trúc Đàm đã viết thư gửi Toàn quyền Đông Dương ca ngợi lòng yêu nước và tinh thần chống phong kiến, đòi dân quyền, dân chủ của Phan Chu Trinh. Ngày 31/5/1908, ông đột ngột từ trần, để lại sự nghiệp còn dang dở.
Tiếp bước anh cả, Lương Ngọc Quyến cùng vợ là Nguyễn Thị Hồng Đính đã hi sinh cho đất nước. Tốt nghiệp Chấn võ học hiệu ở Nhật loại ưu nhưng ông phải rời khỏi Nhật vì chính phủ ra lệnh giải tán du học sinh Việt Nam. Ông sang Trung Quốc học Trường Sĩ quan Học hiệu Bắc Kinh rồi gia nhập quân đội cách mạng Trung Hoa. Với nhiệt huyết cứu nước sôi sục, ông tham gia Việt Nam Quang phục Hội do Phan Bội Châu sáng lập và hoạt động tích cực cho Hội. Năm 1914, ông bị địch bắt tại Hương Cảng rồi bị giải về Hà Nội. Từ địa ngục Hoả Lò, ông viết thơ Cảm tác nêu rõ chí khí giết gặc cứu nước. Đặc biệt, trong bài thơ Gửi vợ thắm tình nghĩa vợ chồng, ông đã an ủi và động viên vợ - bà Nguyễn Thị Hồng Đính thay ông báo hiếu cha mẹ, nuôi dạy con cái, giữ vững ý chí hoạt động cứu nước: “Trên vì nước, dưới vì nhà/ Non sông mở mặt, mẹ cha thoả lòng. Ông bị đày lên Thái Nguyên. Và tại đây, ông đã cùng một số đồng chí tổ chức khởi nghĩa (30/8/1917), giành chính quyền tại tỉnh lỵ Thái Nguyên trong thời gian ngắn. Ông đã hi sinh oanh liệt tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương (tháng 9/1917).

Lương Ngọc Quyến (1885 - 1917).
Từng là người đi tiên phong trong phong trào mặc áo ngắn, để răng trắng; sau đó cùng chồng bôn ba ở Hàng Châu, Thượng Hải, Hương Cảng, kề vai sát cánh với chồng, ủng hộ tài chính cho các chí sĩ của Hội Duy Tân và Việt Nam Quang phục Hội hoạt động; bà Nguyễn Thị Hồng Đính đã nén đau thương, tiếp tục sự nghiệp cứu nước. Bà sang Nam Vang, nơi Lương Văn Can đang bị lưu đày, mở hiệu buôn Hưng Thạnh và Nam Gia, lấy tiền tài trợ cho các chiến sĩ yêu nước đang hoạt động ở Trung Quốc, Nam Vang, tiếp tế sách báo, vật phẩm cho tù chính trị bị đày đi Côn Đảo. Năm 1931, bà về Hà Nội và tiếp tục trợ giúp các chiến sĩ cách mạng. Năm 1938, bà ủng hộ tài chính cho Nguyễn Công Truyền ra tranh cử vào Viện Dân biểu Bắc kỳ để góp vào tiếng nói của Đảng ta công khai trên nghị trường. Năm 1944, bà về Kiến Xương, tham gia vào cuộc khởi nghĩa tháng Tám (1945) và xây dựng chính quyền cách mạng ở Thái Bình. Ghi nhớ công lao đóng góp của vợ chồng Lương Ngọc Quyến, trên bia mộ của hai ông bà ở quê hương Nhị Khê, có phù điêu là lá quân kỳ nền đỏ, năm sao trắng của Việt Nam Quang phục Quân. Ngày 20-1-1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã truy tặng bà tấm bằng Có công với nước; và năm 2002, bà được truy tặng Huân chương Độc lập.
Sau vợ chồng Lương Trúc Đàm, vợ chồng Lương Ngọc Quyến hoạt động xuất sắc như trên, vợ chồng Lương Ngọc Bân, con thứ sáu của cụ Lương Văn Can cũng có nhiều đóng góp cho các hoạt động của ĐKNT và của Phan Bội Châu cho tổ chức Việt Nam Quang phục Hội. Khi ông mất sớm ở tuổi 29 (1892-1921), vợ ông, bà Nguyễn Thị Vân Thiềm đã dũng cảm tiếp bước chồng, ủng hộ các chiến sĩ cộng sản như Nguyễn Công Thu, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Công Truyền. Năm 1936, bà cùng bà Nguyễn Thị Hồng Đính, trợ giúp Đảng xuất bản báo Le Travail (Lao động). Số nhà 32 Hàng Ngang của bà trở thanh địa điểm liên lạc của Đảng ta thời kỳ Mặt trận dân chủ. Cách mạng tháng Tám thành công, bà là cơ sở tin cậy của đồng chí Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), đón bà Nguyễn Thị Thanh, chị gái Bác, về ở nhà mình, khi bà Thanh ra thăm Bác. Sau cách mạng tháng Tám, Tổng bộ Việt Minh đã trao tặng bà bằng Có công với nước(2).
Sự nghiệp mở mang dân trí cho quốc dân của cụ Lương Văn Can đã được cả gia đình, con trai cũng như con dâu, con gái tin theo, hăng hái nhiệt thành giúp cha: bà Lương Thị Tín là giáo viên dạy chữ quốc ngữ cho lớp nữ sinh đầu tiên của trường ĐKNT khi bà 16 tuổi. Bà Lương Thị Trí và em trai là Lương Ngọc Môn, sang Nam Vang chăm sóc cha, đã trông nom hiệu buôn Đại Thanh cho cha yên tâm soạn sách và lấy tiền trợ giúp các chiến sĩ yêu nước.
Công cuộc Duy tân - canh tân đổi mới, hội nhập văn minh Á -Âu đầu thế kỷ XX để khai dân trí - chấn dân khí - hậu dân sinh, đánh đuổi thực dân Pháp, xây dựng nước Việt Nam hùng mạnh sánh cùng các cường quốc trên thế giới chính là một cuộc cách mạng lớn về văn hoá do các sĩ phu yêu nước khởi xướng và lãnh đạo. Nó đã thổi luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội lúc đó đang bị trì trệ, thúc đẩy thế hệ mới học văn minh thế giới nhưng vẫn phải giữ lấy quốc hồn của văn hoá Việt. Chính với tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc ấy mà Lương Văn Can đã giáo dưỡng cho các con sớm đi theo truyền thống gia đình, đem ánh sáng văn hoá thế giới và quốc hồn của dân tộc vào công cuộc canh tân, dâng hiến tuổi thanh xuân và cả gia sản cho sự nghiệp cứu nước. Ý chí và tinh thần giữ vững quốc hồn dân tộc để học tập tiếp thu văn hoá thế giới, xây dựng đất nước giàu mạnh của Lương Văn Can và các chí sĩ đầu thế kỷ XX, đến nay vẫn là ngọn đèn soi sáng cho chúng ta trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển.
*Lời kết
Tượng Lương Văn Can đã được dựng trong sân ngôi trường do chính ông cho xây dựng từ năm 1924 ở quê hương Nhị Khê. Nhưng tấm gương hi sinh cao cả của toàn thể gia đình doanh nhân Lương Văn Can là bức tượng muôn đời tạc trong lòng người dân đất Việt.
Cụ cử Lương Văn Can đã ra đi ngày 12-6-1927 tức 13 tháng 5 năm Đinh Mão 1927, chỉ sau người vợ tài đảm quy tiên 2 tháng; nhưng sự nghiệp canh tân, đổi mới, mở rộng bang giao, xây dựng đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền được cụ Lương Văn Can dạy con cháu gia tộc, cũng là dạy cho con cháu đất Việt khắc ghi 6 chữ trong di chúc: Giữ lấy bảo quốc túy, tuyết quốc sỉ!” (Giữ lấy tinh hoa của dân tộc, rửa sạch xỉ nhục của nước nhà). Sáu chữ ấy thật là một cái hộ phù cứu nước rất linh, rất mạnh, không gì hơn nữa. Lời di chúc tâm huyết ấy của Cụ vẫn khích lệ lòng yêu nước cho chúng ta, phấn đấu cho dân giàu, nước mạnh trong công cuộc canh tân hôm nay.
Phạm Kim Thanh
Chú thích:
(1), (2): Theo Lý Tùng Hiếu: Lương Văn Can và phong trào Duy tân. NXB Văn hóa Sài Gòn, 2005.