Ngô Quyền (898-944) một hào trưởng địa phương, đã lãnh đạo nhân dân chống lại quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng, ông xưng vương trở thành ông vua đầu tiên của nước Việt độc lập. Chấm dứt 1000 năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, mở ra một thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ cho Việt Nam.
Trước khi Ngô Quyền lập nên nhà Ngô, đã có nhiều cuộc đấu tranh giành độc lập được diễn ra, trong đó tiêu biểu nhất đó là cuộc đấu tranh xây dựng nền tự chủ của Khúc Thừa Dụ. Tuy nhiên do thế lực quá yếu cộng với chính sách đối ngoại không hợp lý đã dẫn tới thất bại của họ Khúc. Tiếp đó là thế lực của Dương Đình Nghệ nổi lên đã đánh bại quan cai trị nhà Nam Hán là Lý Tiến, Trần Bảo và kế tục họ Khúc làm chủ chính quyền tự chủ của người Việt.
Để tranh thủ sự ủng hộ của các hào trưởng khác, Dương Đình Nghệ đã có nhiều chính sách nhằm cố kết lực lượng, xây dựng chính quyền trung ương ở Đại La. Do đó Dương Đình Nghệ đã gả con gái của mình cho Ngô Quyền. Cuộc hôn nhân mang ý nghĩa hôn nhân chính trị giữa hai dòng họ. Từ địa vị con rể, Ngô Quyền trở thành một dũng tướng tâm phúc của Dương Đình Nghệ. Năm 932, Ngô Quyền được giao cho quyền quản lĩnh vùng đất căn bản của họ Dương ở Châu Ái.
Năm 937, Kiều Công Tiễn – một nha tướng đã giết Dương Đình Nghệ để cướp quyền cai trị và thuần phục Nam Hán rồi tự xưng là tiết độ sứ. Hành động của Kiều Công Tiễn đã gặp phải sự phản đối của các hào trưởng địa phương. Ngô Quyền với danh nghĩa là con rể của Dương Đình Nghệ, đồng thời đứng đầu liên minh Dương – Ngô, ông đã tổ chức lực lượng tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Do bị cô lập, Kiều Công Tiễn đã sang cầu cứu nước Nam Hán, lợi dụng điều đó vua nước Nam Hán đã đưa quân sang nhằm chiếm lại nước ta. Năm 938 Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn và cùng với nhân dân tổ chức cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược Nam Hán.
Được sự ủng hộ của nhân dân, ông cùng với quân sĩ gấp rút chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Được biết đại quân của Hoằng Tháo sẽ tiến quân theo đường cửa sông Bạch Đằng, nên sai quân sĩ đóng cọc nhọn có bọc sắt, sau đó nhử quân vào trận địa mai phục, chờ khi nước triều rút, ông cho quân phục binh ở hai bên bờ sông nghênh chiến. Bị Mai phục, quân địch rút lui thì gặp trận địa mai phục.
Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Ngô Quyền lên xưng vương, lập nên nhà Ngô, lấy Cổ Loa (Đông Anh) Hà Nội làm kinh đô. Để củng cố trật tự triều đình, Ngô Quyền đặt ra các chức quan văn võ, quy định lễ nghi trong triều với mục đích xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh, tuy nhiên ông chỉ trị vì trong 6 năm (938 – 944). Sau khi Ngô Quyền mất, triều đình nhà Ngô bắt đầu suy yếu, các thế lực tranh giành quyền lực dẫn đến loạn 12 xứ quân.
Mặc dù thời gian tồn tại của nhà Ngô không dài, các mặt về chính trị, văn hóa không để lại nhiều dấu ấn. Tuy nhiên, các nhà sử học Việt Nam thời trung đại như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên…, đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Theo Lê Văn Hưu, trong Đại Việt sử ký toàn thư nhận định về ông rằng: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới hợp của đất Đại Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói một cơn giận mà yên được lòng dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương chưa lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước ta, ngõ hầu đã nối lại được”. Còn Ngô Sĩ Liên ca tụng ông là mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ đứng đầu các vua, đồng thời cho rằng cách thức cai trị của ông có quy mô của bậc đế vương. Do vậy mà sách Quốc sử khảo đã tôn vinh ông là vua tổ phục hưng dân tộc.
Thu Nhuần tổng hợp.
Nguồn: Phạm Quang Ái, “Ngô Quyền người mở đầu kỷ nguyên độc lập của Đại Việt”,
tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 341, tháng 11-2012.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.