Tháng 8/2012, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với UBND huyện Đức Thọ, tỉnh Thanh Hóa tổ chức tọa đàm khoa học Hoàng hậu Bạch Ngọc và khởi nghĩa Lam Sơn tại Thanh Hóa. Kết quả Hội thảo khẳng định: những tư liệu các nhà sử học đã công bố tại buổi tọa đàm là cứ liệu lịch sử tin cậy để tiếp tục nghiên cứu các di tích về Hoàng hậu Bạch Ngọc, nhằm tôn vinh công lao của bà đối với dân tộc và quê hương Hà Tĩnh.
Hoàng hậu Bạch Ngọc tên thật là Trần Thị Ngọc Hào; quê bà ở làng Tri Bản, huyện Thổ Hoàng (nay là xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh). Bà là Hoàng hậu của vua Trần Duệ Tông (1372-1377).
Theo chính sử thì vua Trần Duệ Tông tên thật là Trần Kính, con thứ 11 của vua Minh Tông, em trai của vua Nghệ Tông có một nguyên phi họ Lê, năm 1373 được lập làm Hoàng hậu tức Gia Từ Hoàng hậu và sinh con trưởng là Trần Hiện.
Theo bản gia phả được lưu tại chùa Am thuộc huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh thì bà Trần Thị Ngọc Hào sau khi được tuyển vào cung, sinh công chúa Huy Chân và sau đó trở thành Hoàng hậu.
Sau đời vua Trần Duệ Tông và Phế đế Trần Hiện, vương triều Trần ngày càng suy vi và năm 1400 bị thay thế bằng vương triều Hồ (1400-1407). Năm 1406 nhà Minh tiến hành một cuộc xâm lược với quy mô lớn vào nước ta. Cuộc kháng chiến chống giặc Minh do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại; nước ta rơi vào ách nô lệ dã man của giặc Minh. Ngay thời điểm đó đã bùng nổ một phong trào đấu tranh vũ trang rộng rãi chống Minh trên toàn quốc Đại Việt. Trong đó, đáng chú ý có hai cuộc khởi nghĩa lớn nhất do Trần Ngỗi lãnh đạo nổ ra vào cuối tháng 11/1407 và cuộc khởi nghĩa do Trần Quý Khoáng khởi xướng năm 1409. Hai cuộc khởi nghĩa này đều do quý tộc họ Trần đứng đầu.

Nhân dân quanh vùng đến lễ Phật tại chùa Am. Ảnh Trịnh Dương
Trong bối cảnh đó, Hoàng hậu Bạch Ngọc phải rời kinh thành, lánh nạn về Hương Sơn. Tại đây, bà cùng các cận thần đã chiêu mộ được nhiều cư dân quanh vùng đến tham gia, tổ chức khẩn hoang, lập nên nhiều làng xóm mới. Khu vực khẩn hoang khá rộng lớn, trên từ Lâm Thao, Hòa Duyệt (thuộc Hương Khê), Thượng Bồng, Hạ Bồng (thuộc Hương Sơn), giữa đến Lạng Quang, Du Bồng, Đồng Quang (thuộc Đức Thọ), dưới đến Thường Nga, Lai Thạch (thuộc Can Lộc). Diện tích khai phá lên đến gần 4 mẫu. Đây là một thành tựu khai khẩn lớn trên một khoảng không gian rộng trải ra trên gần bốn huyện phía tây bắc Hà Tĩnh hiện nay. Bà được dân trong vùng quý mến bởi công lao chỉ huy khai khẩn đất đai, tạo dựng cho dân chúng có được cuộc sống ấm no.

Một trong những nơi thờ tự Hoàng hậu Bạch Ngọc cùng các con cháu tại chùa Am. Ảnh Trịnh Dương
Khởi nghĩa Lam Sơn được đánh giá là đỉnh cao của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở đầu thế kỷ XV do Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi tổ chức và lãnh đạo nổ ra năm 1418 tại vùng rừng núi Thanh Hóa. Trải qua quá trình đấu tranh kiên trì gian khổ khoảng 10 năm, cuộc chiến đã phát triển rộng rãi trên phạm vi toàn quốc và kết thúc thắng lợi vào năm 1427. Trong quá trình kháng chiến, các tướng quân của Lê Lợi trên đường đi đánh thành Tây Đô đã đi qua vùng rừng núi Hương Sơn, Hương Khê và Đức Thọ. Trong khi đó cũng có một toán quân Minh đang lẩn lút và chiếm cứ một số trang trại của bà Bạch Ngọc. Được sự giúp đỡ của một số cư dân quanh vùng, các tướng quân và nhân dân ta đã nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ giặc Minh, vùng khẩn hoang của bà Bạch Ngọc lại trở nên yên bình. Sau khi trở về, các tướng báo cáo với Lê Lợi về Hoàng hậu Bạch Ngọc và khu khẩn hoang rộng lớn. Lê Lợi đã trực tiếp đến yết kiến Hoàng hậu. Sau khi gặp công chúa Huy Chân, rung động trước sắc đẹp của nàng, Lê Lợi đã cầu hôn và phong cho nàng làm cung phi, đồng thời lệnh cho quân lính xây điện Phượng Hoàng và điện Ngũ Long làm nơi cư trú cho Hoàng Thái hậu Bạch Ngọc và Cung phi Huy Chân. (Sau đó Huy Chân sinh một người con gái tên là Lê Ngọc Châu (tức công chúa Trang Từ). Công chúa Trang Từ sau lấy Minh quân Bùi Ban, con trai Bùi Bị, chưa kịp sinh con thì Bùi Ban bị thương nặng trong trận chiến với giặc Minh và tử trận).
Hoàng hậu Bạch Ngọc đã nhiệt tình ủng hộ số lương thực dự trữ trong các kho lương của mình. Đồng thời bà còn cho phép nhiều nông dân, tá điền được tham gia bổ sung vào lực lượng quân khởi nghĩa. Sau khi đất nước thanh bình, bà Bạch Ngọc quy y đạo Phật và tạo dựng hai ngôi chùa Tiên Lữ ở xã Mỹ Xuyên và chùa Am (Diên Quang tự) ở xã Phụng Công đều thuộc Đức Thọ. Bà mất ngày 22 tháng 6 niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) đời vua Lê Thánh Tông. Công chúa Huy Chân sau một thời gian sống trong cung đình Đông Kinh đã xin về quê tu cùng mẹ tại chùa Am và mất ngày 22 tháng 3 niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) đời vua Lê Thánh Tông. Còn công chúa Trang Từ sau này cũng về tập trung với bà ngoại và mẹ thắp hương thờ Phật tại ngôi chùa nói trên và mất ngày 5 tháng chạp niên hiệu Cảnh Thống (1498-1504) đời vua Lê Hiến Tông.

Tọa đàm Hoàng hậu Bạch Ngọc và khởi nghĩa Lam Sơn tại Thanh Hóa 8/2012. Ảnh Trịnh Dương
Hoàng hậu Bạch Ngọc đã có nhiều cống hiến đáng kể trong phong trào đấu tranh chống quân xâm lược Minh đầu thế kỷ XV, đặc biệt bà tích cực ủng hộ quân lương cùng nhiều của cải vật chất cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Không những thế, bà còn trực tiếp chỉ huy con cháu cùng nhân dân quanh vùng khai hoang ruộng đất tạo thành một quê trù phú, cuộc sống thanh bình, no ấm. Tên tuổi của bà có ảnh hưởng khá sâu trên một vùng rộng lớn với nhiều chùa, đền, điện miếu... Quan trọng nhất là chùa Am và chùa Tiên Lữ bởi hai chùa này do bà thiết lập và gắn bó với cuộc đời tu hành của ba bà cháu. Vì vậy, hậu thế cần ghi nhận những đóng góp nói trên của bà cùng các con cháu đối với lịch sử dân tộc ở thế kỷ XV nói chung và với Hà Tĩnh nói riêng.
Hồng Anh