Thứ Tư, 20/05/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

21/08/2012 08:46 9078
Điểm: 3/5 (2 đánh giá)
Người vợ thứ ba Đặng Thị Nhu hay còn được biết đến với cái tên là bà Ba Cẩn là người phụ nữ luôn đồng hành cùng “Hùm thiêng Yên Thế” Đề Thám trong các cuộc chiến trận với sự đồng lòng, đồng trí cao nhất…

Hùm thiêng Yên Thế

Hoàng Hoa Thám tên thật Trương Văn Thám hay còn gọi được là Đề Thám quê ở xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Sau đó, gia đình Hoàng Hoa Thám di cư lên Sơn Tây, Hà Tây, rồi đến Yên Thế, Bắc Giang. Cha ông là Trương Văn Thận. Mẹ ông là Lương Thị Minh. Sinh thời, cha mẹ ông đều là những người rất trọng nghĩa khí.

Cả hai đều gia nhập cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Nhàn, Nông Văn Vân ở Sơn Tây. Năm 16 tuổi, Hoàng Hoa Thám tham gia khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875). Khi Pháp chiếm Bắc Ninh vào tháng 3 năm 1884 thì Hoàng Hoa Thám gia nhập nghĩa binh của Trần Quang Loan, lãnh binh Bắc Ninh.

Đề Thám
Đề Thám


Năm 1885, ông tham gia khởi nghĩa của Cai Kinh của Hoàng Đình Kinh ở Lạng Giang diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 1882 đến năm 1888. Sau khi Cai Kinh chết, ông đứng dưới cờ của nghĩa quân Lương Văn Nắm (tức Đề Nắm) và trở thành một tướng lĩnh có tài.

Tháng 4 năm 1892, Đề Nắm bị thủ hạ Đề Sặt sát hại và Hoàng Hoa Thám trở thành thủ lĩnh tối cao của phong trào Yên Thế. Đề Thám tiếp tục hoạt động, lập căn cứ ở Yên Thế và trở thành thủ lĩnh danh tiếng nhất của phong trào nông dân chống Pháp lúc bấy giờ với biệt danh “Hùm xám Yên Thế”.

Trong gần 30 năm, Đề Thám đã lãnh đạo đã tổ chức đánh nhiều trận, tiêu biểu là các trận ở thung lũng Hố Chuối vào tháng 12 năm 1890 và Đồng Hom vào tháng 2 năm 1892.

Trong ba năm từ năm 1893 đến 1895, quân Pháp đã tập trung lực lượng để đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thực dân Pháp không từ một thủ đoạn nào, từ phủ dụ đến bao vây tàn sát. Tay sai của Pháp là Lê Hoan cầm đầu đoàn quân, một mặt dụ hàng, mặt khác ra sức triệt hạ các xóm làng nơi nghĩa quân Yên Thế hoạt động.

Hoàng Hoa Thám bằng chiến thuật du kích tài tình đã tránh được mũi nhọn của quân Pháp và đã gây cho họ những tổn thất nặng nề.

Nghĩa quân Yên Thế đã trừng trị những người phản bội như Đề Sặt. Thấy chưa thể dập tắt được phong trào Yên Thế, nên vào năm 1894, Pháp đã yêu cầu giảng hòa, cắt nhượng cho nghĩa quân bốn tổng thuộc Yên Thế.

Hoàng Hoa Thám cũng muốn tranh thủ thời gian để chuẩn bị thêm lực lượng, ông đồng ý hòa hoãn. Nhưng chỉ vài tháng sau, đến tháng 10 năm 1895, Pháp đã bội ước, huy động lực lượng mở những cuộc tấn công trên quy mô lớn vào Yên Thế.

Không những thế, Pháp còn treo giải thưởng 30.000 franc cho kẻ nào bắt được Hoàng Hoa Thám. Lần ra quân này của quân Pháp cũng không đàn áp được phong trào nông dân Yên Thế, nên Pháp phải yêu cầu giảng hòa lần thứ hai vào năm 1897.

Trong hơn 10 năm hòa hoãn, từ tháng 12 năm 1897 đến ngày 29 tháng 1 năm 1909, nghĩa quân Yên Thế đã có những bước phát triển mới. Địa bàn hoạt động được mở rộng từ trung du đến đồng bằng, kể cả vùng Hà Nội. Hoàng Hoa Thám tổ chức ra “đảng Nghĩa Hưng” và “Trung Chân ứng nghĩa đạo” làm nòng cốt.

Đặc biệt, Hoàng Hoa Thám đã chỉ đạo cuộc khởi nghĩa ngày 27 tháng 6 năm 1908 của nhóm lính tập ở Hà Nội trong vụ Hà thành đầu độc. Sự kiện này làm chấn động khắp cả nước.

Ngoài ra, Hoàng Hoa Thám xúc tiến việc xây dựng Phồn Xương thành căn cứ kháng chiến, đồng thời bí mật liên hệ với lực lượng yêu nước ở bên ngoài.

Nhiều sĩ phu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình Kiên... đã gặp gỡ Hoàng Hoa Thám và bàn kế hoạch phối hợp hành động, mở rộng hoạt động xuống đồng bằng.

Ngày 29 tháng 1 năm 1909, Thống sứ Bắc kỳ đã huy động 15.000 quân chính quy và lính khố xanh, 400 lính dõng là một lực lượng lớn nhất từ trước tới lúc đó do đại tá Batay và đại thần Lê Hoan chỉ huy tổng tấn công vào căn cứ Yên Thế.

Đề Thám vừa tổ chức đánh trả, vừa phải rút lui khỏi Yên Thế, đến Thái Nguyên, Tam Đảo. Tuy nhiên, con ông là Cả Trọng bị tử thương và con gái út là Trương Thị Thế bị bắt. Lực lượng nghĩa quân giảm sút dần và tới cuối 1909 bị tan rã. Đề Thám phải sống ẩn náu trong núi rừng Yên Thế cùng hai thủ hạ tâm phúc.

Khởi nghĩa Yên Thế chấm dứt vào năm 1913. Có những giả thiết khác nhau về cái chết của thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám. Trong những ngày cuối cùng, lực lượng ngày càng mỏng, Đề Thám chỉ còn vài thủ hạ bảo vệ bên cạnh và liên tục phải di chuyển.

Khi ông tới vùng Hồ Lẩy, người Pháp đã bố trí 3 người đến trá hàng để tiếp cận và hạ sát ông cùng 2 thủ hạ vào sáng mồng 5 Tết năm Quý Sửu, tức ngày 10 tháng 2 năm 1913, sau đó mang thủ cấp ông ra bêu Phủ đường Yên Thế để thị uy dân chúng.

Tuy nhiên, có ý kiến nghi ngờ về giả thiết này khi dẫn 3 thông tin khác. Một là nhà cầm quyền Pháp chỉ cho bêu đầu có 2 ngày rồi vội cho tẩm dầu, đốt thành tro đem đổ xuống ao và không cho công bố ảnh thủ cấp những người chống lại bị chém giết.

Và theo Lý Đào, một cận vệ cũ của Hoàng Hoa Thám và thường cắt tóc cho Đề Thám nên biết đầu ông có một đường gồ chạy từ trán lên đỉnh đầu, trên khuôn mặt có bộ râu ba chòm, nhưng cái đầu cắm ở Phủ đường không có đường gồ, cằm không có râu.

Hai là theo người dân làng Lèo, thủ cấp bị bêu là của sư ông trụ trì ở chùa Lèo, vì sư ông có dung mạo khá giống với Hoàng Hoa Thám và không thấy xuất hiện từ hôm đó, có lẽ bị giết để thế chỗ. Nên rất có thể Hoàng Hoa Thám chạy trốn và sống ẩn dật những ngày cuối đời trong dân chúng và cuối cùng chết vì bệnh tật.

Một số quan lại cho rằng ông mất vào trước thời điểm ngày 10 tháng 2 năm 1913, còn dân chúng lại cho rằng ông mất sau thời gian này. Cho đến nay cái chết của Hoàng Hoa Thám vẫn là bí ẩn lịch sử chờ đợi các nhà khoa học khám phá. Mặc dù vậy, hình ảnh và những công lao chống Pháp của Hoàng Hoa Thám đã được lịch sử cũng như chính dân gian ghi nhân qua câu ca dao: “Ở đây là đất ông Đề/ Tây vô thì có, Tây về thì không”.

Người vợ đồng chí hướng

Trong số những người vợ của Hoàng Hoa Thám thì người vợ thứ ba Đặng Thị Nhu hay còn được biết đến với cái tên là bà Ba Cẩn là người phụ nữ luôn đồng hành cùng Đề Thám trong các cuộc chiến trận với sự đồng lòng, đồng trí cao nhất. Đặng Thị Nhu sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Phú Khê, huyện Yên Thế. Sớm mồ côi mẹ, bà sống với cha, là một thầy mo ở làng.

Lúc nhỏ, bà được học chữ Nho và học nghề của cha. Theo Nguyễn Văn Kiệm, vì Đặng Thị Nhu có nhan sắc nên bị một nhà giàu ép buộc làm vợ. Bất mãn, bà lấy Đề Thám và công khai chống lại bọn cường quyền.

Trong một bài viết của mình, nhà nghiên cứu Thái Gia Thư đã kể cuộc tình duyên của Hoàng Hoa Thám và Đặng Thị Nhu. Chuyện kể rằng vào một buổi chiều nọ, khi đi đến làng Vạn Vân lánh nạn, Đề Thám bỗng gặp một cô gái xinh đẹp.

Ông đã nói dối với cô rằng, ông là người đi buôn, bị kẻ cướp lấy hết vốn liếng. Sẵn lòng thương người, cô gái đưa khách về nhà gặp cha.

Ở đây, bất ngờ Đề Thám gặp Thông Luận, là một cộng sự của mình. Thông Luận lại là con nuôi của cha cô gái. Nhờ mối quan hệ này, mà gia đình cô gái trở thành cơ sở của nghĩa quân và cô cũng trở thành người giúp việc đắc lực cho Đề Thám.

Tâm đồng ý hợp, nên chẳng bao lâu sau, Đề Thám cưới cô gái làm vợ thứ ba. Nguời con gái đó không ai khác chính là Đặng Thị Nhu.

Bà Ba Cẩn và con gái
Bà Ba Cẩn và con gái


Vừa là vợ vừa là cộng sự, bà Ba Cẩn đã sát cánh cùng chồng bàn định nhiều kế hoạch cho công cuộc kháng chiến lâu dài và gian khó. Theo Nguyễn Văn Kiệm, thì bà cùng với Cả Rinh (hay Dinh, Kinh), Cả Huỳnh và Cả Trọng hợp thành ban tham mưu đắc lực, đồng thời cũng là những người chỉ huy giỏi.

Ngoài vai trò ấy, bà Ba còn lo việc hậu cần, đảm bảo sinh hoạt, mua sắm đạn dược cho nghĩa quân. Khi có chiến trận, bà ở bên Đề Thám cùng chiến đấu...

Vào vụ gặt, bà Ba thường ra chợ Nhã Nam thuê thợ công nhật. Đối với họ, bà trả tiền công theo thời giá, có khi còn hậu hơn một chút. Theo sử Việt, vào năm 1907, Đề Thám cùng bà đã tổ chức ra đảng Nghĩa Hưng, Trung Chân ứng nghĩa đạo ở Hà Nội và đề ra kế hoạch đầu độc lính Pháp. Tuy việc không thành, nhưng cũng đã làm quân Pháp rất hoang mang, lo sợ.

Năm 1909, sau gần 1 tháng trời lăn lộn vào ra sinh tử ở Vĩnh Yên, Đề Thám mới thoát khỏi vòng vây trở về Yên Thế vào tháng 11, thì lại bị quân Pháp kéo theo bao vây lần nữa. Đề Thám, bà Ba Cẩn cùng nghĩa quân ở đồn Phồn Xương đã đánh trả kịch liệt...

Sáng 1 tháng 12 năm 1909, thì bà Ba Cẩn và con gái tên Hoàng Thị Thế bị giặc Pháp bắt. Những ngày chiến đấu cuối cùng của bà Ba Cẩn đã được kể lại rằng: vào ngày 17 tháng 11 năm 1909, Hoàng Hoa Thám cùng tàn quân về đến Yên Thế, thì quân của Tiểu đoàn trưởng Bonifacy cũng kéo đến bao vây Nhã Nam.

Quân Pháp cùng các cộng sự người Việt tăng cường khủng bố, làm cho sự tiếp tế bị tê liệt... Ngày 1 tháng 12 cùng năm, thì bà Ba Cẩn bị trung đội Coucron đi tuần bắt được gần đồn chợ Gồ, Yên Thế. Hôm sau, ông Thám dẫn 5 nghĩa quân đi cứu bà, thì lọt vào ổ phục kích lúc 1 giờ 30 khuya. Một nghĩa quân hy sinh, nhưng ông Hoàng chạy thoát được.

Ngày 24 tháng 2 năm 1910, 78 nghĩa quân, trong đó có bà Ba Cẩn bị đối phương mang hết về giam ở Hỏa Lò rồi bị án đày sang Guyane, Nam Mỹ. Dọc đường, thừa lúc quân canh sơ ý, bà nhảy xuống biển tự tử ngày 25 tháng 12 năm 1910.

Sách “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” ghi nhận công lao của bà Ba Cẩn: “Đặng Thị Nhu là người có trí dũng, từng xông pha trận mạc, giúp chồng đắc lực trong cuộc kháng Pháp.

Khoảng đầu năm 1909 dù binh cùn thế kiệt, bà vẫn cùng chồng oanh liệt chỉ huy nghĩa quân chống địch trong trận đánh ở chợ Gồ, khiến các lực lượng do viên Đại tá Bataille đốc suất phải nể vì... Bà là một tấm gương sáng của phụ nữ nước Việt”. Ngoài ra, bà Ba Cẩn cũng được ca tụng trong một bài vè dài với những lợi ngợi ca công lao đánh Pháp của bà:

“Âu là sinh tử nhờ trời,
Sợ mà ra thú ta thời không ra.
Cho nên nó mới đánh ta,
Bà Ba, hai Cả (Cả Trọng) định ra thế nào?
Bà Ba quỳ gối tâu vào,
Tôi xin gánh đỡ ông chồng một phen.
Bà Ba loan báo binh quyền,
Cơ nào độ ấy vững bền cho ta.
Để ta sắp lấy binh qua,
Dấn mình vào đám can qua phen này.
Bà Ba khi ấy mới hay,
Quần chân, áo chít mặc ngay vào mình.
Nhẩy lên đứng giữa Tây thành,
Gọi rằng khố đỏ, khố xanh kia là
Các anh hãy nghe lời ta,
Ta đây chính thực vợ ba Đề Hoàng”

  • Đinh Minh
phunutoday.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Đồng chí Phạm Văn Đồng - Một nhân cách lớn, trọn đời vì nước, vì dân

Đồng chí Phạm Văn Đồng - Một nhân cách lớn, trọn đời vì nước, vì dân

  • 02/03/2026 11:31
  • 2721

Suốt 94 năm cuộc đời và hơn 75 năm dấn thân không mệt mỏi, dấu chân của đồng chí Phạm Văn Đồng đã in đậm từ những lớp huấn luyện bí mật tại Quảng Châu, qua “địa ngục trần gian” Côn Đảo, cho đến những năm tháng chèo lái "con thuyền" Chính phủ trên cương vị Thủ tướng.

Bài viết khác

Trịnh Hoài Đức- nhà chép sử số 1 triều Nguyễn

Trịnh Hoài Đức- nhà chép sử số 1 triều Nguyễn

  • 20/08/2012 14:24
  • 11976

Cống hiến xuất sắc nhất của Trịnh Hoài Đức đối với tiến trình lịch sử, văn hóa dân tộc là bộ sách “Gia Định thành thông chí”- một bộ sách lịch sử, địa lý, văn hóa ra đời sớm và giá trị nhất về miền đất Nam Bộ thời bấy giờ.