24/08/2016 18:43 29765
Điểm: 4.67/5 (6 đánh giá)
Tháng 8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước ta đã làm một cuộc Tổng khởi nghĩa đập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế độ quân chủ phong kiến trên đất nước ta, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Lực lượng khởi nghĩa bao gồm cả lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng, trong đó lực lượng chính trị quần chúng là lực lượng giữ vai trò chủ yếu quyết định. Lực lượng vũ trang tuy chỉ giữ vai trò bổ trợ chiến lược trong Tổng khởi nghĩa nhưng nếu không có lực lượng ấy thì cũng không thề có quá trình phát triển và thắng lợi rực rỡ của cách mạng.
Trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta đã đi từ xây dựng và phát triển lực lượng chính trị quần chúng lên xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng, đi từ xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng rộng rãi lên xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng tập trung, phối hợp giữa đội quân chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương trong các hoạt động xây dựng và tác chiến.
Từ những ngày đầu nắm quyền lãnh đạo cách mạng nước ta, ngay trong Chính cương vắn tắt, Đảng ta đã đề ra một trong những nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta là “tổ chức ra quân đội công nông”. Luận cương chính trị (10-1930), ngoài việc xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng tư sản dân quyền là “lập quân đội công nông”, còn đề ra một trong những nhiệm vụ tổ chức lực lượng cách mạng trong giai đoạn đấu tranh chính trị hiện tại là “tổ chức đội tự vệ của công nông” và trong thời điểm chuyển lên khởi nghĩa giành chính quyền là “võ trang cho công nông”. Lúc mới thành lập, Đảng ta không có sẵn một khu căn cứ, một mảnh đất tự do nào, do đó không có sẵn một đơn vị vũ trang tập trung nào.

Bút tích trang đầu dự thảo Luận cương chính trị của Đảng, tháng 10/1930.
Từ kinh nghiệm của phong trào cách mạng quần chúng đang diễn ra, Hội nghị lần thứ nhất của Trung ương Đảng (10-1930), đề ra tổ chức các đội tự vệ của công nhân, nông dân và chỉ rõ phải thành lập ra bộ phận chuyên trách quân sự trong Đảng để giúp cho các công hội, nông hội tổ chức lực lượng tự vệ của công nông, chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang của quần chúng sau này.
Tháng 3-1940, Xứ ủy Nam Kỳ vạch rõ: Để chuẩn bị bạo động, trước mắt là tổ chức đội tự về và du kích ở các địa phương. Đến tháng 7-1940 tại nhiều nhà máy, trường học, đường phố các tỉnh Nam Kỳ, ngoài tổ chức tự vệ đã hình thành các tổ, tiểu tổ du kích. Ở vùng nông thôn, nhiều xã tổ chức được từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Biên chế ba người thành một tổ, ba tổ thành một tiểu đội, ba tiểu đội thành một trung đội, trang bị thô sơ, tiến hành huấn luyện quân sự, chuẩn bị khởi nghĩa. Đội du kích Hóc Môn (Gia Định), đội du kích Cần Giuộc (Chợ Lớn), đội du kích Vĩnh Liên (Vĩnh Long), đội du kích Mỹ Tho là những đội quân du kích đầu tiên của Nam Kỳ tham gia khởi nghĩa tháng 12-1941.
Vào những năm trực tiếp chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, các đội tự vệ cứu quốc được thành lập ở những nơi có các hội cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Từ trong lực lượng tự vệ cứu quốc hết sức rộng rãi ấy lại thành lập ra các đội tự vệ chiến đấu (còn gọi là tiểu tổ du kích) làm hạt nhân, được tổ chức chặt chẽ hơn, trang bị đầy đủ hơn và luyện tập nhiều hơn. Từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đội du kích (lấy tên là Cứu quốc quân) được duy trì và phát triển. Tại những nơi có phong trào Việt Minh và lực lượng tự vệ phát triển mạnh, nhất là ở hai trung tâm cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn – Vũ Nhai đã hình thành và phát triển các đội du kích thoát ly. Đó là lực lượng vũ trang tập trung làm nòng cốt cho phong trào du kích, cho việc xây dựng và bảo vệ các khu căn cứ tại các tỉnh, các huyện.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22/12/1944.
Trong điều kiện cách mạng nói chung và khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng nói riêng đang trên đà phát triển mạnh, trên cơ sở các lực lượng tự vệ, du kích các địa phương Cao - Bắc - Lạng đã trưởng thành, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt và chuẩn bị cho việc phát động chiến tranh du kích sắp tới, ngày 22-12-1944, Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.
Việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân không chỉ là một sự kiện lịch sử quan trọng trong phong trào cách mạng ở vùng căn cứ Cao - Bắc - Lạng, mà còn là một sự kiện lịch sử trọng đại trong công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với sự ra đời