Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển Đông là tuyến chi viện chiến lược đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra một trang sử vẻ vang mới cho dân tộc Việt Nam.
Ngược lại những tháng năm lịch sử, cách đây 52 năm, ngày 23-10-1961 theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ Đoàn 125 Hải quân (với tên gọi “Đoàn tàu không số”) để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng với cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 125 Hải quân ngay sau khi được thành lập.
Trước khi tổ chức “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, Quân ủy Trung ương quyết định tổ chức một chuyến trinh sát tìm đường. Đội tàu trinh sát được tổ chức gồm các đồng chí người Cà Mau, Trà Vinh, có kinh nghiệm đi biển, do đồng chí Bông Văn Dĩa làm thuyền trưởng. Đêm ngày 8-4-1962, một chiếc thuyền gỗ gắn máy cùng 7 thủy thủ, không có la bàn, không hải đồ, không một loại giấy tờ nào đã rời bến Nhật Lệ (Quảng Bình) đi tìm đường bí mật trên biển. Đêm ngày 18-4-1962, tàu đã cập bến Vàm Lũng (Quân khu 9, nay thuộc cửa Bồ Đề tỉnh Cà Mau) an toàn. Tại đây, đồng chí Bông Văn Dĩa đã báo cáo với Khu ủy về chủ trương của Trung ương là mở tuyến vận chuyển vũ khí từ miền Bắc theo đường biển vào Nam Bộ. Sau một tháng chuẩn bị bến bãi, đội trinh sát trở ra Bắc an toàn, bí mật và báo cáo với Trung ương về dự án tuyến đường trên biển. Chuyến đi thắng lợi đã giúp cho Trung ương quyết định về mở đường vận tải biển chi viện cho chiến trường miền Nam và được gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.

Tàu của Đoàn 125 nhận hàng từ bến Đá Bạc (Thủy Nguyên, Hải Phòng) để vận chuyển, chi viện cho chiến trường miền Nam. (Ảnh tư liệu BTLSQG)
Đêm ngày 11-10-1962, chiếc tàu gỗ gắn máy không số đầu tiên mang tên Đông Phương 1, chở 33 tấn vũ khí dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Văn Một và Bông Văn Dĩa rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng). Đến ngày 16-10-1962, tàu cập bến Vàm Lũng, cửa Bồ Đề (Cà Mau) an toàn. Đây là chuyến hàng đầu tiên thắng lợi của đường Hồ Chí Minh trên biển. Trong vòng 3 tháng sau đó, Đoàn 759 đã tổ chức 4 chuyến tàu chở 111 tấn vũ khí cung cấp cho chiến trường góp phần làm nên chiến thắng Ấp Bắc năm 1963. Trong năm 1963, Đoàn 759 đã hoàn thành 28 chuyến đi, chở 1.318 tấn vũ khí giao cho Quân khu 7, 8, 9.
Ngày 29-1-1964, Đoàn 759 được đổi tên thành Đoàn 125 Hải quân. Trong năm 1964, với 89 chuyến liên tục, Đoàn 125 đã chở được nhiều đoàn cán bộ từ miền Bắc vào chi viện cho chiến trường và từ miền Nam ra miền Bắc nhận nhiệm vụ mới cùng với gần 5.000 tấn hàng hóa các loại đến các tỉnh như: Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Bà Rịa, Phú Yên, Bình Định an toàn.

Một con tàu không số của Đoàn 125 hành trình trên biển vào miền Nam. (Ảnh tư liệu BTLSQG)
Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền tay sai điên cuồng tìm mọi cách ngăn cản đường Hồ Chí Minh trên biển của ta. Chúng thành lập lực lượng “Đặc nhiệm 115”; huy động phần lớn lực lượng tác chiến của Hạm đội 7, kiểm soát chặt chẽ trên biển bằng tàu chiến, máy bay, các trạm rađa hiện đại; tổ chức phục kích ven bờ, các vị trí nghi ngờ có tàu của ta tập kết đưa hàng vào bến.
Cuộc đấu trí căng thẳng với kẻ thù, vật lộn gian khổ với thời tiết, sóng gió liên tục diễn ra, cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 với những con tàu không số, thuyền gỗ, phương tiện thô sơ, xuất phát từ nhiều địa điểm khác nhau, đi theo nhiều tuyến, vươn rộng ra biển xa; từng tàu hoạt động độc lập, dài ngày, vượt qua nhiều tuyến bao vây phong tỏa dày đặc của địch, đưa hàng tới đích thắng lợi. Mỗi chuyến đi, cán bộ chiến sĩ ta đều chấp nhận sẵn sàng hi sinh cả người và con tàu, quyết không để vũ khí rơi vào tay quân thù, không để lộ nhiệm vụ và con đường vận tải chiến lược. Đã có biết bao cán bộ chiến sĩ của Đoàn 125 dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và phá nát vũ khí, cho nổ tan tàu thuyền hoặc lao thẳng vào tàu địch, cùng trở thành vũ khí tiêu diệt địch. Chẳng hạn như sự kiện Vũng Rô tháng 2-1965, do sự cố bất ngờ tàu 143 bị hỏng phải neo đậu tại Vũng Rô tỉnh Phú Yên, mặc dù đã ngụy trang chu đáo nhưng địch vẫn phát hiện được, các thủy thủ của ta đã chiến đấu anh dũng chống trả kẻ thù và phá hủy tàu. Hoặc như tàu 165 ở Cà Mau, tàu 67 ở Bến Tre, tàu 235 ở Hòn Hèo (Nha Trang), tàu 645 ở khu vực Phú Quốc, tàu 100 ở bến Rạch Gốc …đã làm kẻ thù khiếp sợ.

Biểu tượng cánh buồm tại cảng K15, Đồ Sơn, Hải Phòng- cột mốc đầu tiên của đường Hồ Chính Minh trên biển.
Nhiều thuyền trưởng, chính trị viên tàu đã dũng cảm, dám nhận lấy sự hi sinh cùng với con tàu và vũ khí để lại sự khâm phục, lòng tiếc thương của nhân dân và đồng đội như: Nguyễn Phan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Chánh Tâm, Nguyễn Ngọc Lương…
Mười bốn năm liên tục vận chuyển (1961- 1975), Đoàn 125 đã huy động được 1.879 lần chuyến tàu, vận chuyển trên 150.000 tấn hàng hóa, hơn 80.000 lượt người vượt hàng vạn hải lý xuyên biển Đông, chống chọi và vượt qua hơn 20 cơn bão lớn, chiến đấu với hơn 30 lần tàu chiến địch, hơn 1.200 lần chiếc máy bay địch, khắc phục hơn 4.000 quả thủy lôi, bắn rơi 5 máy bay địch, bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu, xuồng chiến đấu của địch. Trong chiến dịch Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, Đoàn đã cùng với Đoàn 126 Hải quân và Bộ đội Quân khu 5 tiến công giải phóng đảo Trường Sa, đảo Cù Lao Thu, Côn Đảo, Phú Quốc, đảo Thổ Chu…góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tượng đài khu di tích đường Hồ Chí Minh trên biển (bến Trà Vinh) tại ấp Cồn Trứng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải, Trà Vinh.
Qua các cuộc hành trình trên biển của Đoàn 125, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh anh dũng, nằm lại giữa lòng biển bao la để bảo vệ an toàn cho Đoàn tàu Không số và con đường huyền thoại.Đất nước và dân tộc ta sẽ mãi mãi ghi ơn các anh, cũng như huyền thoại về Đoàn tàu Không số và Đường Hồ Chí Minh trên biển- bản hùng ca của sự sáng tạo và ý chí Việt Nam. Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa hiện nay, vùng biển thuộc chủ quyền của đất nước được trải dài với diện tích khoảng trên 1 triệu km2, cùng hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh, quốc phòng. Vì vậy, việc nghiên cứu, kế thừa và phát huy những bài học, kinh nghiệm quý báu của Đoàn tàu Không số và đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn còn nguyên giá trị và rất cần thiết, góp phần quan trọng bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay.
Chu Lộc- Phương Thảo (Tổng hợp)
Nguồn:
1.Bách khoa tri thức Quốc phòng toàn dân. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2003.
2.Những con đường huyền thoại. Nxb Lao Động, Hà Nội 2011.