Chiến dịch phòng ngự của liên quân Việt-Lào nhằm đánh bại kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và QĐ Thái Lan, bảo vệ vùng giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, phối hợp với cuộc tiến công 1972 ở chiến trường Trị-Thiên và Bắc Tây Nguyên.
Tháng 5-1972, lực lượng địch ở khu vực Quân khu 2 (Quân khu Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng) có 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh. Trong đó lính đánh thuê có 18 tiểu đoàn bộ binh, hai tiểu đoàn pháo binh. Lực lượng tăng cường từ Quân khu 1, Quân khu 3 có GM 10B9(1), GM30; đồng thời tại khu vực Sa La Phu Khun có hai lữ thuộc Sư đoàn bộ binh 1, 2 tiểu đoàn quân trung lập; một tiểu đoàn đặc biệt; một đại đội pháo binh. Tại sân bay ở Long Chẹng có hai đại đội T28 với 9 máy bay, riêng không quân Mỹ chi viện từ 50 đến 70 lần chiếc/ngày.
Cùng thời gian này, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam tham gia chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng có Trung đoàn 148, Trung đoàn 174 Sư đoàn bộ binh 316, Trung đoàn 866 tình nguyện độc lập, Trung đoàn 335 độc lập thuộc Quân khu Tây Bắc; hai tiểu đoàn đặc công 41, 27; tiểu đoàn pháo binh 42; tiểu đoàn tăng-thiết giáp; hai tiểu đoàn cao xạ 37mm; hai tiểu đoàn súng máy cao xạ 12,7mm; hai tiểu đoàn công binh với 4 máy húc. Tới tháng 10-1972, Bộ Tổng tư lệnh tăng cường Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn bộ binh 308C. Về phía lực lượng Quân đội giải phóng nhân dân Lào có Tiểu đoàn 1, 2, 12, 24, 701, Tiểu đoàn pháo binh; một đại đội xe tăng; một đại đội pháo mang vác nữ; hai đại đội pháo cao xạ; một đại đội công binh, lực lượng trung lập yêu nước có Tiểu đoàn 15, 46, 48.
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tháng 2-1972, Hội nghị Quân ủy Trung ương đã xác định: Phải giành thắng lợi to lớn, tạo nên so sánh lực lượng và cục diện mới có lợi cho ta, buộc địch phải chấm dứt chiến tranh năm 1972 theo điều kiện của ta, đồng thời có sự chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh mạnh hơn nữa vào mùa khô 1972-1973 nếu địch còn ngoan cố kéo dài chiến tranh.
Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch do Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Lê Linh làm Chính ủy, Thượng tá Ngô Thế Trung - Sư trưởng Sư 316 làm Tư lệnh mặt trận tiền phương. Phía bạn Lào, đồng chí Khẻm Phon, Tư lệnh quân khu Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó tư lệnh chiến dịch. Sở chỉ huy chiến dịch đặt tại Phu Nhu.
Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức lực lượng thành hai thành phần chủ yếu, trong đó lực lượng phòng ngự trận địa gồm hai Trung đoàn 174 và Trung đoàn 866 được tăng cường hai đại đội xe tăng và hai đại đội pháo binh chiến dịch, có nhiệm vụ chiếm giữ các cụm chốt: Phu Pha Say, điểm cao 2063, điểm cao 1800, 1978, 1516, 1900B, Phu Tâng, Phu Tôn, Phu Seo, Hụa, Sạng, Phu Keng, Phu Thông, Phu Khe, Phu Học. Kìm chân địch tại chỗ, tạo điều kiện cho các lực lượng cơ động chiến dịch tiến hành phản đột kích, đánh các trận then chốt tiêu diệt địch.
Địa bàn phòng ngự được tổ chức tại khu tứ giác Mường Sủi-Noọng Pét-thị xã Xiêng Khoảng-Thẩm Lửng (dài 60 km, rộng 50 km), chia thành 5 khu vực: khu trung tâm (Cánh Đồng Chum), khu trung gian (Hin Tặng), khu thứ yếu (Noọng Pét) và 2 khu tác chiến phối hợp (Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng); mỗi khu vực có một số cụm chốt.
Lực lượng tham gia phòng ngự gồm: 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh của quân tình nguyện VN; 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương của Quân Giải phóng Nhân dân Lào.
Lực lượng địch thuộc Quân khu 2, gồm: 76 tiểu đoàn bộ binh (Thái Lan có 18 tiểu đoàn tổ chức thành các GM), 3 tiểu đoàn pháo binh; bố trí theo 4 khu vực quanh Cánh Đồng Chum, được không quân Mỹ chi viện.
Chiến dịch diễn ra bốn đợt:
Đợt 1 (21/5-10/8/1972); địch dùng không quân đánh phá ác liệt các điểm cao trọng yếu và trục đường giao thông, từ ngày 25/5 mở 3 hướng tiến công vào khu trung gian, ngày 27/5 chiếm được một số điểm tựa phía Tây các điểm cao 1800, 2063, Thẩm Lửng.
Ta phản kích thắng lợi ở Phu Phaxay, đẩy lui cánh quân hướng Đông Nam về Tôm Tiếng, khôi phục lại trận địa ở điểm cao 1800, đánh tan 6 tiểu đoàn (có 2 tiểu đoàn Thái Lan) ở Hin Đăm, Thẩm Lửng, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch ở Mường Sủi, đồng thời dùng đặc công, pháo binh tập kích địch ở Long Chẹng.
Đợt 2(11/8-10/9/1972); địch chuyển hướng tiến công vào Cánh đồng Chum, sử dụng 4 GM đánh đường bộ theo 3 hưóng (Đông Nam, Tây và Đông Bắc), kết hợp với 2 GM đổ bộ đường không xuống Phu Keng đánh hướng Tây Bắc. Ta kịp thời ngăn chặn, đẩy lui địch ở Phu Luông, Phu Hủasang, Phu Thông, đồi 5 mỏm, điểm cao 1294, Bản Lao, Phu Học, đồng thời tập trung lực lượng thực hiện thắng lợi trận phản đột kích then chốt ở Phu Keng diệt và bắt hơn 700 địch (30.8-3.9), giữ vững trận địa.
Đợt 3 (11-30/9/1972); địch tăng cường lực lượng (6 GM và 3 tiểu đoàn) chuyển đánh hướng Tây là chính, đồng thời tung biệt kích xuống Talinoi quấy rối hậu phương ta, nhưng không đạt kết quả.
Đợt 4(1/10-15/11/1972); địch huy động 4 GM và 2 tiểu đoàn dồn sức tiến công nhằm chiếm một phần phía Nam Cánh đồng Chum để gây áp lực cho đàm phán chính trị (15/10). Ta tổ chức lực lượng thích hợp ngăn chặn, phản kích bẻ gãy các mũi và hướng tiến công của địch, kết hợp tập kích tiêu hao sinh lực, tạo thế và lực đánh trận then chốt quyết định tiêu diệt phần lớn cụm quân địch từ nam Bản Quay đến bắc Khang Kho (26/10), sau đó tiếp tục tiến công, truy quét địch khỏi Nam Cánh Đồng Chum, buộc địch phải co về giữ Long Chẹng.
Kết quả: Với 244 trận đánh, loại khỏi chiến đấu hơn 5.600 địch , bị bắt và ra hàng 1.137 tên. Ta bắn rơi và phá hủy 130 máy bay, thu 136 khẩu súng pháo và cối. Riêng quân và dân Lào diệt gần 400 tên, bắt 139 tên địch, gọi hàng 230 tên, đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, phá 32 ấp, giải phóng 3 huyện, thu nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí của địch.
Trước thất bại không gượng nổi trên toàn bộ chiến trường, Tổng thống Mỹ lúc đó Richard Nixon buộc phải để cho Phuma công khai đề nghị ngừng bắn trên toàn bộ lãnh thổ Lào có quốc tế giám sát và đồng ý lấy đề nghị 5 điểm của Pathet Lào làm cơ sở thương lượng về giải pháp hòa bình ở Lào.
Những chiến công vang dội trên Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975); cổ vũ mạnh mẽ và tạo điều kiện cho quân và dân Lào liên tiếp nổi dậy, giành chính quyền trong cả nước và thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vào ngày 2/12/1975. Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của QĐNDVN và Quân Giải phóng Nhân dân Lào với cách đánh sáng tạo, hiệu quả; góp phần đúc kết kinh nghiệm, làm phong phú lí luận về nghệ thuật chiến dịch VN trong kháng chiến chống Mỹ.
Minh Vượng (tổng hợp)