Thứ Bảy, 11/04/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

30/04/2013 17:25 13385
Điểm: 5/5 (4 đánh giá)
Lấy lý do triều đình nhà Nguyễn không tôn trọng Hiệp ước 1873, tiếp tục quan hệ với triều đình nhà Thanh, dung túng quân Cờ Đen ( dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc), ngăn trở việc thông thương trên sông Hồng cũng như có các hành động kỳ thị Pháp kiều, đầu tháng 3/1882 Thống đốc Nam Kỳ Charles Marie Le Myre de Vilers phái Trung tá Henri Riviere đem 300 quân ra Bắc Kỳ.

Sau khi lấy thêm quân và tàu chiến ở Hải Phòng, tổng số lực lượng của Pháp gồm 2 tàu lớn, 5 tàu nhỏ và khoảng 600 quân. Trấn thủ thành Hà Nội lúc này là Hoàng Diệu, ông là người Quảng Nam, được điều ra Bắc làm Tổng đốc Hà- Ninh ( Hà Nội- Ninh Bình) năm 1880. Nhận rõ vị trí chiến lược của Hà Nội, Hoàng Diệu đã tâu ngay về triều đình: “ Hà thành là đất cuống họng của Bắc Kỳ… nếu một ngày tan tành như đất nở, thì các tỉnh lần lượt mất như ngói bong…”. Ông liên tục xin thêm quân và lo bố phòng cho Hà Nội. Nhưng hầu hết không được triều đình đáp ứng và còn bị quở trách. Tuy vậy, Hoàng Diệu vẫn tích cực lo chống giặc, ông tuyển thêm quân, cho làm lại các cửa thành bằng gỗ lim dày, trong lại chất các bao cát, rút thêm nước vào các hào. Đến khi quân Pháp tấn công, quân trong thành có khoảng vài ngàn, đông gấp nhiều lần quân Pháp.

Ngày 3/4/1882, Riviere đến Hà Nội. Chúng đóng quân ở Đồn Thủy, bên bờ sông Hồng (nay là khu vực từ Nhà Hát Lớn đến bệnh viện Quân y 108), là đất nhượng địa theo Hiệp ước 1874. Riviere bắt liên lạc với các cố đạo Pháp và gấp rút chuẩn bị tấn công. Trước đó triều đình Huế đã phái một viên quan vào Sài Gòn đề nghị cho Riviere giữ nguyên trạng thành Hà Nội, và lệnh cho Tổng đốc Hà Nội không được khiêu khích quân Pháp. Do dù biết trước sau Riviere cũng tấn công mà Hoàng Diệu không được phép đánh trước.(khi có biến, Hà Nội cũng đơn độc chống cự mà không có sự chi viện của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc từ Sơn Tây, của Trương Quang Đản từ Bắc Ninh, nhất là quân của Hoàng và Lưu đóng ở phủ Hoài ( Dịch Vọng, Từ Liêm), sát nách thành Hà Nội. Tuy nhiên Hoàng Diệu cũng không chịu xuống tàu Pháp “ đáp lễ” mà gấp rút tuyển thêm quân, sau đó cùng các tướng giữ thành uống máu ăn thề, sẵn sàng hy sinh.

Quân Pháp tấn công thành Hà Nội lẩn thứ hai, tháng 4/1882.

5 giờ sáng ngày 25/4/ 1882 Riviere gửi tối hậu thư bắt Hoàng Diệu nộp thành. Hoàng Diệu cử án sát Tôn Thất Bá đi gặp Riviere xin khất 24 giờ sau sẽ trả lời, nhưng chỉ đến 8 giờ 15, Riviere đã nổ súng tấn công. Mở đầu đại bác của Pháp dưới tàu bắn vào. Tôn Thất Bá quay trở về sắp đến thành, nghe tiếng súng nổ sợ quá liền bỏ trốn. Cùng lúc đó 4quân Pháp kéo một số khẩu đại bác lên bờ, di chuyển sát thành để bắn. Sau đó bộ binh Pháp men theo các dãy nhà, bụi cây to tiến lên. Hoàng Diệu đang ốm nhưng vẫn đích thân lên lầu Cửa Bắc để chỉ huy. Quân ta bắn rất mạnh. Trống mõ nổi lên ầm ầm để động viên quân sĩ và hư trương thanh thế. Hiệp quản Thiện bắn chết một sỹ quan Pháp, được Hoàng Diệu thưởng 30 lượng bạc. Nhiều dãy nhà lá trúng đạn bốc cháy cũng cản đường tiến quân của giặc. Nhưng một điều không may xảy ra: kho thuốc súng trong thành bốc cháy, quân tướng từ đó hoang mang, nhiều kẻ bỏ trốn. 10 giờ 45, một cánh quân Pháp tiến sát chân thành phía Tây rồi cả Cửa Bắc. Chúng bắc thang trèo vào thành. Hầu hết các tướng của Hoàng Diệu (Đê đốc Lê Văn Trinh, Bố chính Phan Văn Tuyển, Lãnh binh Lê Trực, Phó lãnh binh Hồ Văn Phong, Nguyễn Đình Đường,…) đều lần lượt bỏ trốn, trận địa quân ta tan vỡ. Hoàng Diệu thế cô phải chạy lẫn trong đám loạn quân, vào Hành cung, thảo Di biểu và truyền lệnh cho quân sĩ tùy ý hoặc giải binh, hoặc lên Sơn Tây nhập với quân của Hoàng Kế Viêm, rồi ông đến một cây to trước Võ Miếu (nay là đầu phố Chu Văn An, trước mặt trụ sở Bộ Ngoại Giao), dùng khăn nhiễu treo mình tự vẫn. Di biểu ông viết có đoạn “ thành mất không sao cứu được , thật hổ với nhân sĩ đất Bắc Hà lúc sinh thời. Thân chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương dưới đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng…”.

Henri Riviere (1827-1883), người chỉ huy quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai.

Quân Pháp vào thành, tịch thu tiền bạc, phá hủy hết súng đạn. Sau đó chúng cho gọi Tôn Thất Bá về giao lại thành, nhưng Riviere lại đóng quân ngay trong Hành cung, treo cờ Pháp thay cho cờ nhà Nguyễn ngay từ ngày 27/4/1882.

Hoàng Ngọc Chính (tổng hợp).

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

  • 18/06/2019 10:06
  • 7504

* Làm báo Suối Reo trong nhà tù Sơn La

Bài viết khác

Ngày 1 - 5 trong quá trình đấu tranh cách mạng Việt Nam.

Ngày 1 - 5 trong quá trình đấu tranh cách mạng Việt Nam.

  • 29/04/2013 13:12
  • 11377

Ngày 1-5, ngày đấu tranh của lao động quốc tế, bắt nguồn từ phong trào công nhân của các nước tư bản phương Tây từ năm 1886, không những là một ngày lịch sử, kỷ niệm hàng năm mà còn là một ngày nghỉ ngơi, biểu dương lực lượng của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới chống áp bức, bóc lột, đòi cơm áo, tự do và hòa bình. Do đó, ngày 1-5 cũng theo sự tiến triển của cuộc đấu tranh cách mạng toàn thế giới mà ngày một lớn lên.