Chủ Nhật, 14/04/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

18/01/2013 14:24 4527
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ với giặc ngoại xâm hùng mạnh gấp bội để giành lại, giữ vững nền độc lập của mình và sự thống nhất Tổ quốc. Đó là nét đặc thù hiếm thấy của Việt Nam.

Một nét đặc thù nữa là trong sự nghiệp đấu tranh ấy, đấu tranh ngoại giao luôn luôn phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một điển hình về nét đặc thù này của Việt Nam.

Trong suốt quá trình đấu tranh vì độc lập và thống nhất đất nước sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho tới khi giải phóng hoàn toàn Tổ quốc, nước ta đã bốn lần ký hiệp định ngoại giao: Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946, Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Paris năm 1973. Nét chung của bốn điều ước đó đều là những bước đi tưởng như mang tính sách lược song đều phục vụ cho mục tiêu chiến lược theo phương châm tạm hòa hoãn, chuẩn bị lực lượng, tiến lên giành thắng lợi lớn hơn đi tới thắng lợi hoàn toàn.

Toàn cảnh Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954

Một nét nổi bật khác của cuộc đấu tranh ngoại giao ấy, nhất là cuộc đấu tranh tại Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 và cuộc đàm phán Paris trong những năm 1968 -1973, là sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị - quân sự với đấu tranh ngoại giao. Đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao luôn có mối quan hệ biện chứng, gắn liền hữu cơ và hỗ trợ lẫn nhau, trong đó thắng lợi trên chiến trường thường quyết định thành công trên bàn đàm phán, thắng lợi trên bàn đàm phán tạo thêm điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi lớn hơn trên chiến trường. Hội nghị Paris là sự thể hiện trình độ cao nghệ thuật vừa đánh vừa đàm của Việt Nam. Hội nghị cho thấy chúng ta đã vận dụng một cách nghệ thuật mối quan hệ hữu cơ đó, mở đàm phán đúng lúc và kết thúc đàm phán đúng lúc, phù hợp với tình thế trên chiến trường.

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam, 27.1.1973

Cuộc đàm phán Paris kéo dài gần 5 năm, từ 13/5/1968 đến 27/1/1973, chia làm ba giai đoạn chính và gắn chặt với ba bước ngoặt trên chiến trường Việt Nam. Giai đoạn một là từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khi Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc (từ 13-5 đến tháng 10-1968), giữa hai bên Việt Nam - Hoa Kỳ. Giai đoạn này gắn với thắng lợi Tết Mậu Thân 1968. Giai đoạn hai kéo dài từ lúc bốn bên ngồi vào đàm phán (từ 18/1/1969 cho đến giữa năm 1972). Lúc này, trên chiến trường ta chưa giành được thắng lợi quyết định. Vì thế, đàm phán giẫm chân tại chỗ, các bên chủ yếu là thăm dò nhau. Chỉ sau thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972, ta giành lại được thế chủ động trên chiến trường, đàm phán mới đi vào thực chất (giai đoạn ba). Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam gửi cho Mỹ bản "Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" với những điều khoản yêu cầu Mỹ rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972, phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Ngày 12/12/1972 cuộc đàm phán phải tạm dừng. Vào đêm 18/12/1972, tổng thống Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên Phủ trên không" kết thúc bằng việc 38 "pháo đài bay B52" và 43 máy bay chiến đấu khác của Mỹ nổ tung ngay trên bầu trời Hà Nội. Đây là đòn quyết định nhất buộc Nixon phải tuyên bố ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cho phía Mỹ gặp đoàn đại biểu Việt Nam tại Paris để ký hiệp định chấm dứt chiến tranh. Ngày 23/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng trợ lý Tổng thống Mỹ Kissinger đã ký tắt văn bản Hiệp định. Ngày 27/1/1973 đã diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định tại Paris, buộc Mỹ phải rút khỏi miền Nam, đồng thời làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống

Hoa Kỳ, trao bút cho nhau sau khi cùng ký tắt Hiệp định về chấm dứt chiến tranh,

lập lại hòa bình ở Việt Nam, Paris ngày 23/0/1973

Khác hẳn với lịch sử ngoại giao trên thế giới, ngay cả các sự kiện ngoại giao lớn như Hội nghị Teheran, Yanta, Posdam; thành công của các cuộc đàm phám ngoại giao ở Việt Nam, nhất là cuộc đàm phán đưa tới Hiệp định Paris 1973 đều gắn liền với phong trào rộng lớn của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam, thể hiện sáng ngời phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh quốc gia với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.

Tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam là nguồn gốc khơi dậy sự ủng hộ quốc tế đối với nước ta. Đường lối và sự chỉ đạo đúng đắn về đối ngoại của Đảng đối với miền Bắc và miền Nam có ý nghĩa quyết định xây dựng Mặt trận đoàn kết đấu tranh của nhân dân trong cả nước và tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý, hình thành trên thực tế Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ chí tình của Đảng Cộng sản Pháp, nhân dân Pháp và phong trào cánh tả, phong trào không liên kết, nhân dân các nước tư bản, nhân dân Mỹ và phong trào phản chiến của binh lính Mỹ.

Nhân dân Liên Xô míttinh tại các nhà máy của Liên Xô

ủng hộ Việt Nam, lên án đế quốc Mỹ xâm lược.

Cội nguồn của thắng lợi tại Hội nghị Paris là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ. Hiệp định Paris còn là bằng chứng tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới.

Lê Khiêm tổng hợp

Nguồn tham khảo:

- Nguyễn Thị Bình, "Hiệp định Paris: 30 năm nhìn lại", Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam,

H.: Chính trị Quốc gia, 2004; tr. 35-46.

- Vũ Khoan, "Hiệp định Paris: Dấu son sáng chói trong lịch sử ngoại giao Việt Nam",

Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, H.: Chính trị Quốc gia, 2004; tr. 47-49.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

Đồng chí Xuân Thủy với báo Suối Reo và báo Cứu Quốc

  • 18/06/2019 10:06
  • 4341

* Làm báo Suối Reo trong nhà tù Sơn La

Bài viết khác

Hội nghị Pari về Việt Nam (1968-1973) – dấu son trong đường lối ngoại giao của Việt Nam.

Hội nghị Pari về Việt Nam (1968-1973) – dấu son trong đường lối ngoại giao của Việt Nam.

  • 17/01/2013 15:20
  • 5147

Hội nghị Pari về Việt Nam là cuộc đấu tranh cực kỳ quyết liệt và gay go với khoảng thời gian dài chưa từng thấy trong lịch sử đàm phán.