Bối cảnh ra đời Bảo tàng
Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã thành lập Phái đoàn Khảo cổ thường trực tại Đông Dương (Đội Khảo cổ Đông Dương) đóng trụ sở ở Sài Gòn. Đến năm 1900 (20/1/1900), trên cơ sở tiền thân Đội Khảo cổ Đông Dương, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO: École Francais d’Extrême - Orient ) được thành lập. Đầu thế kỷ 20, Hà Nội trở thành thủ phủ, trung tâm hành chính của liên bang Đông Dương do đó, Hà Nội đã được người Pháp chọn để xây dựng một bảo tàng có tầm cỡ ở Đông Dương.
Bên cạnh đó, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, qua nhiều năm nghiên cứu, phát hiện, khai quật và sưu tầm, đã thu thập được nhiều di vật quý, có giá trị khoa học, cần có nơi lưu trữ, trưng bày. Do vậy, ông Louis Finot, Giám đốc của Trường lúc bấy giờ đã đề nghị Toàn quyền Đông Dương cho lập bảo tàng.
Ngày 28/2/1925, Toàn quyền Đông Dương Merlin đồng ý về mặt nguyên tắc cho nghiên cứu và xây dựng bảo tàng tại Hà Nội. Sau khi lên làm Toàn quyền thay thế Merlin, ngày 21/10/1925, Toàn quyền Đông Dương Montguillot chính thức duyệt y đề án xây dựng bảo tàng này.
Từ đây, công trình Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp được xây dựng với mục đích lưu giữ và trưng bày hiện vật là các di vật khảo cổ, nghệ thuật thu thập từ các nước Đông Nam Á.
Bảo tàng Louis Finot thời thuộc Pháp - Nguồn: Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (Phông tài liệu ảnh của EFEO Paris)
Quá trình xây dựng công trình Bảo tàng
Hiện nay, một số tài liệu về thiết kế và thi công công trình Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, bao gồm: Bản vẽ mặt phía Bắc, phía Tây, mặt cắt dọc, tầng trệt... của Bảo tàng, do kiến trúc sư Charles Batteur, thành viên của EFEO lập năm 1925; một số nghị định của Toàn quyền Đông Dương liên quan đến công trình này như: Báo cáo số 1142 ngày 24/2/1925 của Tổng Thanh tra Công chính về việc xây dựng Bảo tàng với tổng diện tích là 1.835m2; Biên bản phiên đấu thầu công trình xây dựng Bảo tàng lần 1 diễn ra ngày 9/11/1925; Nghị định số 2197 ngày 15/5/1928 của quyền Toàn quyền Đông Dương về việc huỷ bỏ hợp đồng xây dựng Bảo tàng ký với nhà thầu Aviat; Báo cáo của Kiến trúc sư chính - Chánh Sở Công thự ngày 12/6/1929 về việc tổ chức đấu thầu công trình xây dựng Bảo tàng lần 2 diễn ra ngày 11/6/1929; Nghị định ngày 11/3/1932 của Toàn quyền Đông Dương về việc đổi tên Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp thành Bảo tàng Louis Finot…
Thông tin từ tài liệu lưu trữ cũng cho thấy, trước đó, Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp đã sử dụng hai ngôi nhà của Phủ Toàn quyền Đông Dương là Dinh thự của Toàn quyền (Hôtel du Gouverneur général) và Văn phòng của Toàn quyền (Bureau du Gouverneur général).
Đề án xây dựng Bảo tàng do Toàn quyền Đông Dương duyệt với tổng chi phí 210.000 đồng bạc Đông Dương. Tầng 1 và tầng 2 dùng để trưng bày hiện vật, tầng hầm dùng làm phòng làm việc và kho chứa tạm thời.
Năm 1926, Bảo tàng được khởi công xây dựng trên khu đất phía sau Nhà hát thành phố, vị trí ở cuối phố Quai Guillemoto (nay là phố Trần Quang Khải) theo thiết kế của kiến trúc sư Ernest Hébrard* - Giám đốc Sở Kiến trúc và Quy hoạch Đông Dương khi đó - người được coi là khởi nguồn cho phong cách kiến trúc Đông Dương với sự cộng tác của kiến trúc sư Charles Batteur.
Khi bắt đầu thi công, người ta đã phải tiến hành phá dỡ hai ngôi nhà cũ. Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp tạm thời sử dụng hai ngôi nhà của Công ty đường sắt Vân Nam, số 39 và 41 phố Carreau (phố Lý Thường Kiệt hiện nay).
Chủ thầu xây dựng công trình ban đầu là ông Aviat nhưng do quá trình thi công gặp nhiều khó khăn nên ngày 1/3/1928, ông Aviat xin huỷ hợp đồng. Ngày 15/5/1928, đề nghị của ông được Toàn quyền chấp nhận.
Đến ngày 11/6/1929, Khu Công chính Bắc Kỳ tiến hành mở cuộc đấu thầu lần 2, kết quả là nhà thầu do ông Trịnh Quy Khang làm chủ thầu đã trúng thầu, với giá thành xây dựng là 187.580 đồng bạc Đông Dương.
Quá trình xây dựng Bảo tàng kéo dài 6 năm (1926 - 1932) vì đây là khoảng thời gian khủng hoảng kinh tế trầm trọng, nhiều lúc công trình phải tạm dừng vì thiếu kinh phí. Công trình được khánh thành vào ngày 17/3/1932. Toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Pierre Pasquier trực tiếp chủ trì lễ khánh thành. Cũng trong năm này, Bảo tàng Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp được đổi tên thành Bảo tàng Louis Finot - tên vị Giám đốc đầu tiên của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp.
Tòa nhà và giá trị kiến trúc, nghệ thuật
Theo tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I cho thấy, tòa nhà Bảo tàng do kiến trúc sư Ernest Hébrard và Charles Batteur thiết kế năm 1925, khởi công xây dựng năm 1926 và hoàn thành năm 1932.
Bảo tàng Louis Finot được xây dựng trên khu đất phía sau Nhà hát lớn, chạy dọc bờ đê sông Hồng và là điểm kết thúc của tuyến phố Quaï Guillemoto (phố Trần Quang Khải ngày nay), một vị trí có thể tạo ra điểm nhấn kiến trúc cho tuyến đường ven đê. Đây là một trong những công trình văn hóa tiêu biểu nhất cho phong cách kiến trúc Đông Dương, biểu tượng của kiến trúc bảo tàng trên toàn cõi Đông Dương bởi vẻ đẹp khác lạ, bề thế và là một công trình kiến trúc được đánh giá có nhiều thành công trong xử lý không gian kiến trúc gây ấn tượng sâu sắc về một kiểu kiến trúc phù hợp với phương Đông. Với nét đẹp kiến trúc, giá trị lịch sử, văn hóa, ngày nay, công trình này đã trở thành di sản, là điểm nhấn kiến trúc ấn tượng, độc đáo của Thủ đô Hà Nội. Đó cũng là một tác phẩm kiến trúc mang dấu ấn quan trọng, đỉnh cao cho nghệ thuật kiến trúc Đông Dương của kiến trúc sư tài hoa Ernest Hébrard mà theo PGS.TS Philippe Le Failler, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã đánh giá: “Chắc chắn Ernest Hébrard, vừa là chuyên gia khảo cổ, vừa là kiến trúc sư và nhà quy hoạch, người được giải thưởng lớn của Rome (1904), chiếm một vị trí đặc biệt trong số những người đã khiến cho thành phố nổi bật lên với những công trình xây dựng mang dấu ấn của họ. Tới Hà Nội vào năm 1921, năm 1923 ông được bổ nhiệm làm chánh Sở Kiến trúc và Quy hoạch Đông Dương, vị trí mà ông đảm trách đến năm 1931. Ông đã chủ trương đổi mới và đoạn tuyệt với quy tắc tái hiện những xu hướng kiến trúc đang thịnh hành ở chính quốc ở miền nhiệt đới. Nếu ông không phải là người khởi xướng thì cũng là người đưa ra lý thuyết về một sự đối thoại giữa các nền văn hóa và một ý tưởng kết hợp thích ứng pha trộn những yếu tố phương Đông và phương Tây. Kiến trúc lai tạo, được gọi một cách lạm dụng là phong cách Đông Dương, chỉ được áp dụng cho một số ít những công trình ở Hà Nội: Đại học Đông Dương (1926), Sở Tài chính Đông Dương (1926, nay là Bộ Ngoại giao), nhưng chắc chắn mô hình thành công nhất vẫn là Bảo tàng Louis Finot của Viễn Đông Bác Cổ Học Viện (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam)…” (Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp và Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, 2014: 21) và “một số kiến trúc sư người Pháp vừa nắm vững về khoa học xây dựng, có kiến thức sâu sắc về mỹ thuật, vừa hiểu biết về kiến trúc phương Đông, cộng tác với EFEO, đã xây dựng cho Hà Nội nhiều công trình kiến trúc đặc sắc như Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch, Nhà hát Lớn, Trường Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)… vừa mang tính hoành tráng phương Tây, vừa mang những nét bản sắc truyền thống của mỹ thuật phương Đông. Đó là những công trình để đời, gắn liền với tên tuổi những nhà kiến trúc sư tài ba như Henri-Augusste Vildieu, Ernest Hesbrard…” (Ngô Thế Long - Trần Thái Bình 2021: 45).
Trở lại với những năm đầu thế kỷ XX ở Hà Nội, sau khi một loạt công trình phục vụ cho chính quyền thực dân Pháp được xây dựng và đưa vào sử dụng đã dần cho thấy không thuận lợi, không phù hợp với khí hậu cũng như truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan ở đây. Do vậy, việc tìm tòi một phong cách kiến trúc vừa có khả năng đáp ứng công năng hiện đại, vừa phù hợp với khí hậu, cảnh quan và truyền thống văn hoá địa phương đã được một loạt kiến trúc sư người Pháp và sau đó là người Việt theo đuổi, từ đó tạo ra một phong cách kiến trúc kết hợp, gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương. Sự ra đời của phong cách kiến trúc Đông Dương còn xuất phát từ nhu cầu từ đời sống con người xã hội đương thời, bởi “Đông Dương không phải là một thuộc địa nơi có nhiều dân Pháp sang định cư và tuy số lượng người Pháp ở Hà Nội không đáng kể so với Alger, nhưng cũng có một số gia đình sang sinh sống. Năm 1940, gần một phần ba người Pháp sống ở Hà Nội là những người được sinh ra ở đây. Điều này phần nào giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao một số người thích lối kiến trúc “Đông Dương” hơn là kiểu kiến trúc du nhập từ các vùng bên Pháp vào thời kỳ đầu” (Philippe Papin 2009: 240 - 241). Phong cách kiến trúc Đông Dương với cấu trúc mặt bằng, hình khối hoàn toàn theo kiểu Pháp thịnh hành lúc bấy giờ, nhưng đã có sự tìm tòi, biến đổi về mặt không gian và cấu tạo kiến trúc nhằm tạo ra những công trình có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, cảnh quan cũng như truyền thống văn hoá bản địa. Đặc biệt, hình thức và những chi tiết kiến trúc truyền thống Việt Nam, Khmer đã được các kiến trúc sư sử dụng trong việc tạo nên các bộ mái, ô văng che cửa, cùng các hoạ tiết trang trí khác tạo nên những công trình kiến trúc đẹp, hiện đại, tiêu biểu như: Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), Viện Pasteur (nay là Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương), Sở Tài chính Đông Dương (nay là trụ sở Bộ Ngoại giao)... Trong đó, kiến trúc tòa nhà Bảo tàng Louis Finot này có thể được coi là đứng đầu, đại diện lớn của phong cách kiến trúc Đông Dương và là công trình mà ngay từ đầu, được thiết kế, xây dựng để làm bảo tàng. Do đó, việc thiết kế và thi công công trình được thực hiện rất công phu, tỉ mỉ như là thực hiện một tác phẩm nghệ thuật. Những giá trị độc đáo của công trình kiến trúc này được thể hiện rõ trên một số khía cạnh sau:
Về không gian, cảnh quan, bố cục.
Ernest Hébrard là kiến trúc sư, nhà khảo cổ học, nhà quy hoạch người Pháp. Ông là Giám đốc sở Quy hoạch kiến trúc Đông Dương thuộc Pháp, vì vậy việc tiến hành xây dựng công trình Bảo tàng Louis Finot được quy hoạch, thiết kế một cách bài bản, khoa học, có tầm nhìn cả trăm năm.
Tòa nhà Bảo tàng hiện nay chụp từ flycam (Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Trước hết là về quy hoạch không gian kiến trúc: để xử lý thực trạng vị trí của công trình với phía trước là con đường giao thông (phố Quaï Guillemoto) chạy thẳng vào mặt tiền công trình mà trong tâm thức người dân cũng như về phong thủy đó thuộc vào điều kiêng kị nhưng đã được Ông xử lý bằng cách bố trí một vườn hoa tam giác án ngữ như một không gian phân cách mềm (như bức bình phong) vừa đảm bảo phong thủy cho công trình vừa tạo cho công trình có được sự thông thoáng phía mặt tiền. Đây cũng là cách mà ông đã xử lý đối với công trình tương tự, đó là tòa nhà chính của Đại học Đông Dương (nay là Trường Đại học Dược Hà Nội). Tầm nhìn quy hoạch còn được thể hiện qua việc bố trí vị trí công trình Bảo tàng tọa lạc tiếp giáp ba mặt đường xung quanh đảm bảo sự thuận lợi trong việc tiếp cận Bảo tàng cũng như sự liên kết Bảo tàng với các công trình xung quanh tạo nên một tổng thể các công trình bảo tàng - nhà hát - viện nghiên cứu và các đầu mối kết nối giao thông thuận tiện cho việc tiếp cận Bảo tàng. Đây là một kinh nghiệm, tri thức khoa học về quy hoạch kiến trúc đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong quy hoạch các điểm/thiết chế phục vụ cộng đồng…
Về bố cục: công trình gồm: cổng, tòa nhà, vườn cây. Trong đó, cấu trúc cổng vào mặc dù được tạo bởi những hàng rào cây xanh phân cách mềm với không gian bên ngoài nhưng vẫn thể hiện được kiểu thức kiến trúc tam quan truyền thống Việt Nam (đình, đền, chùa…), tuy nhiên, việc bố trí lối lên phía trước sảnh tòa nhà lại mang nét kiến trúc phương Tây với cấu trúc mái/cổng vòm, một trong những mô thức của những tòa trụ sở hành chính, công trình công cộng phương Tây.
Tòa nhà chính cũng được bố cục khá độc đáo: nếu như trong kiến trúc Việt truyền thống thì bố cục công trình thường sắp đặt trải theo bề ngang thì bố cục của tòa nhà này lại được sắp xếp phía trước có hai cánh gà, tòa nhà chính chạy dọc sâu về phía sau nhưng vẫn đảm bảo thừa kế kết cấu kiến trúc chữ Đinh trong kiến trúc Việt truyền thống (đình, đền…).
Cuối cùng là bố cục tổng thể công trình gồm: tam quan, kiến trúc được sắp đặt theo trục dọc trong không gian cảnh quan sân, vườn, cây xanh… đặc biệt với tòa kiến trúc thấp thoáng như dáng một ngôi đình làng, cùng cây đa, bên cạnh bờ đê sông Hồng đã gợi lại cho chúng ta về hình ảnh đặc trưng của làng quê Việt Nam: cây đa - bến nước - mái đình.
Phía trong sảnh bát giác và tòa nhà (phỏng theo kết cấu vì kèo)
Về kết cấu, chi tiết, trang trí kiến trúc
Đầu tiên là hệ thống móng công trình: mặc dù được sử dụng chất liệu hiện đại (bê tông cốt sắt) những vẫn được kết hợp hài hòa với kỹ thuật kè đá tảng gia cố, giữ móng công trình - một kỹ thuật mà chúng ta thấy đã được sử dụng thuần thục và như một nguyên tắc cố định trong kỹ thuật xây dựng các công trình kiến trúc truyền thống, đặc biệt là đối với hệ thống móng tường, cột.
Tiếp theo là tòa bát giác, là phần sảnh chính của tòa nhà được bố cục vút theo chiều cao mà ở đó thoáng có nét kiến trúc gô-tích nhà thờ phương Tây song với hệ thống con sơn, mái hình bát giác lại là những nét quen thuộc, đặc trưng của kiến trúc Di Hòa Viên (Trung Hoa), nơi mà kiến trúc sư Ernest Herbrad đã từng có thời gian nghiên cứu về kiến trúc Trung Hoa hay mái ngói dốc của tòa bát giác cũng mang nét kiến trúc mái chùa Khmer ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Campuchia). Đặc biệt, trên hệ gờ, đầu mái là những hình kỷ hà gấp khúc, đó là sự cách điệu của những đầu đao rồng, phượng trong kiến trúc Việt truyền thống.
Mái với đầu đao hình kỷ hà gấp khúc cách điệu đầu đao hình đầu rồng
Phía trong sảnh hình bát giác được phân chia khu vực sảnh với hệ thống các khu trưng bày xung quanh bởi dãy hành lang và những hàng cột chia từng cặp theo thức cột tròn được kết cấu với nhau theo kiểu ghép mộng… Đây đều là những kiểu thức, kỹ thuật đặc trưng của kiến trúc gỗ, kiến trúc Việt truyền thống. Phần sảnh rộng, hút lên tầng cao khiến cho không gian sảnh tựa như chính điện, nơi giảng đạo của nhà thờ (Công giáo). Vào thời điểm đầu thế kỷ 20, công trình bảo tàng với 2 tầng nhà cao vút lên trên không gian thoáng rộng, mênh mông khiến người đi đường có thể thấy nó hùng vĩ thế nào, đặc biệt là tòa bát giác của công trình đã từng được xem như ngọn “hải đăng” cho những tàu thuyền tham gia giao thông đường thủy trên dòng sông Hồng, như báo hiệu điểm đến của đất kinh kỳ Thăng Long, Hà Nội.
Thức cột tròn với mộng kết nối các đầu cột mô phỏng theo kiến trúc gỗ bên trong tòa nhà;
Thức cột hình “đòng lúa” bên ngoài tòa nhà
Tiếp đến là hệ thống tòa nhà chính chạy dọc theo sân vườn hai bên. Kiểu thức kiến trúc dọc là một trong những đặc trưng kiến trúc nhà thờ phương Tây nhưng hệ thống hành lang, mái lợp ngói âm dương lại đều là những dấu ấn kiến trúc truyền thống Việt Nam thể hiện phù hợp với môi trường nhiệt đới nắng lắm, mưa nhiều. Trên dọc lan can đều được trang trí biểu tượng chữ Vạn cách điệu, một biểu tượng phổ biến của các quốc gia có tiếp thu và phát triển Phật giáo ở khu vực Đông Dương. Đặc biệt là hệ thống cột của toàn bộ công trình, mặc dù bằng chất liệu bê tông cốt thép nhưng đều được thiết kế theo lối kiến trúc gỗ truyền thống kiểu vì kèo, lỗ mộng với thức cột hình “đòng lúa” (hai đầu trên, dưới nhỏ, ở giữa phình được phỏng theo hình thân cây lúa lúc làm đòng, chuẩn bị trổ bông) và từng cặp hàng cột chia tòa nhà thành nhiều gian một cách ước lệ theo kiểu kiến trúc trăm gian truyền thống…; liên kết giữa các cặp hàng cột cũng được làm theo kiểu ghép mộng (mộng đuôi cá) được trang trí hoa văn kỷ hà gấp khúc giống như kiểu thức trang trí trên các đầu mái đao (trang trí này được thể hiện trên tất cả các chi tiết mộng cá ở cả phía trong và ngoài công trình nhằm tạo nên phong cách trang trí thống nhất tổng thể công trình), phía trên đầu các cột là các khối bê tông hình chữ nhật nằm nhô ra, đỡ phần mái kiến trúc, mặc dù công năng chính của chúng không hẳn là chịu lực cho hệ thống mái mà đó là một cách thức đưa chi tiết kiến trúc tựa như những đầu dư trong kiến trúc truyền thống. Chi tiết này cũng được thể hiện ở phía trong công trình với các đầu dư nhô ra một mặt là để trang trí một mặt đó như là một cách nhận biết sự phân chia các gian của tòa nhà dài. Như vậy, hầu hết các chi tiết kiến trúc Việt truyền thống đều đã được chắt lọc, thể hiện trong công trình kiến trúc này.

Hệ thống con sơn, đầu dư đỡ mái kiến trúc (phía bên ngoài tòa bát giác);
Hệ thống đầu dư (phía bên trong tòa nhà chính)
Bên cạnh những chi tiết mang đặc trưng kiến trúc gỗ truyền thống được chắt lọc rất tinh tế, khi đưa vào trang trí cho công trình này cũng được thể hiện rất công phu, tỉ mỉ trong từng chi tiết từ bức tường vôi, diềm lan can hành lang hay cầu thang, các ô thông gió đến các cấu kiện kiến trúc chính như đầu xà, chân cột… Mặc dù trên chất liệu bê tông, cốt thép, tường vôi, xi măng nhưng các chi tiết đó đều được đắp tỉa tỉ mỉ gợi chúng ta nghĩ về các mảng chạm khắc gỗ vậy. Và tất cả hoa văn trang trí đều thống nhất một đề tài đó là văn kỷ hà gấp khúc, đường/chỉ gờ đắp nổi (gờ đơn, kép, giật cấp nhiều lớp) nhưng chúng được thể hiện dưới nhiều kiểu dáng khác nhau phù hợp với công năng, vị trí của mỗi bộ phận kiến trúc thể hiện sự linh hoạt tiếp thu, sáng tạo để tạo nên sự phong phú, sống động cho công trình.
Mộng cá và trang trí hình kỷ hà trên các đầu cột bên ngoài tòa nhà;
Trang trí chữ Thọ cách điệu trên ô thoáng bên ngoài tòa nhà
Nhìn tổng thể tòa nhà vừa mang bóng dáng của nhà thờ phương Tây vừa mang bóng dáng của ngôi đình làng Việt. Mặc dù, các chi tiết kiến trúc mang đậm dấu ấn kiến trúc Đông Đương, kiến trúc Việt truyền thống song các công năng sử dụng của công trình lại mang dấu ấn kiến trúc phương Tây vừa rất hiện đại vừa phù hợp với môi trường và thuận lợi cho mọi hoạt động: hệ thống tầng hầm với tường dày, hành lang ngăn mưa, nắng đảm bảo an ninh, an toàn cho hiện vật lưu giữ, trưng bày; hay hệ thống cửa kính lấy ánh sáng tự nhiên, cửa thông gió đảm bảo luôn mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông… Đó thực sự là một dấu ấn kiến trúc tiêu biểu phản ánh sự giao lưu, gặp gỡ của 2 nền văn hóa Đông - Tây đầu thế kỷ 20. Còn nhiều chi tiết độc đáo trong kỹ thuật xây dựng công trình vẫn đang thu hút sự khám phá của nhiều nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực, nhất là kiến trúc, xây dựng.
Trang trí hình chữ Vạn cách điệu trên lan can hành lang phía ngoài công trình
Trang trí hình kỷ hà trên lan can cầu thang phía ngoài công trình
Cùng những cây cổ thụ, hệ thống trưng bày ngoài trời trong khu vực sân vườn đến nay vẫn được tiếp tục bổ sung, thiết kế hài hòa càng làm cho tòa kiến trúc như một tác phẩm nghệ thuật trên nền màu trời, màu cây xanh mát, hài hòa với tổng thể cảnh quan chung và đã trở thành địa điểm lưu lại những tấm ảnh kỷ niệm (địa điểm check in) đầy ý nghĩa của hầu hết các du khách khi đến với không gian này.
Từ bố cục mặt bằng, cấu trúc không gian, công năng sử dụng tiện lợi đến kỹ thuật xây dựng và các chi tiết kiến trúc mang ý nghĩa văn hóa, nghệ thuật sâu sắc… Đó thực sự đều là những giá trị thể hiện tư duy, trí tuệ, tầm nhìn của những nhà khoa học, kiến trúc sư về quy hoạch, kiến trúc, nghệ thuật để một tòa nhà được dựng lên không chỉ là một công trình xây dựng bình thường mà đó còn là một kiệt tác nghệ thuật, một di sản kiến trúc độc đáo.
Quá trình hoạt động, phát triển của Bảo tàng
Sau khi khánh thành (1932), Bảo tàng Louis Finot trưng bày các sưu tập cổ vật châu Á, chủ yếu là các nước Đông Dương và các sưu tập nghệ thuật các dân tộc Việt Nam. Đối tượng khách tham quan Bảo tàng lúc này chủ yếu là các nhà nghiên cứu, học giả, sinh viên và một số người thưởng ngoạn. Vì vậy, các sưu tập hiện vật được sắp xếp trong các tủ trưng bày (tủ kính, khung đồng dành cho các hiện vật nhỏ) hoặc bày trần trên sàn nhà (đối với các hiện vật thể khối lớn) dọc theo hệ thống cột chạy giữa tòa nhà hoặc một số hiện vật còn được bày trên các mi cửa… với tuyến tham quan trưng bày theo kiểu zích zắc phù hợp với khách tham quan tự do, tự nghiên cứu, thưởng ngoạn cổ vật.
Trong thời gian này, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp còn có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn các nguồn sử liệu cũng như bảo quản, trùng tu các di tích lịch sử văn hóa và hoạt động rất hiệu quả, đóng góp quan trọng trong nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời được thành lập và bắt tay ngay vào việc kiện toàn bộ máy nhà nước cùng với đó là sắp xếp, giao nhiệm vụ cho các bộ, ban, ngành với hàng loạt các sắc lệnh quan trọng được ban hành. Trong đó, Sắc lệnh số 65 do Hồ Chí Minh - Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký ban hành ngày 23/11/1945, theo đó “Đông Phương Bác cổ học viện (Vietnam Oriental Institute) thay Pháp quốc Viễn đông Bác cổ học viện (École Francais d’Extrême Ori-ent) bị bãi đi” và “có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam” (Sắc lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945. Trung tâm lưu trữ quốc gia III – Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước).
Tuy nhiên, ngay năm sau đó (1946), cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra, cả nước lại dồn mọi sức lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ, vì vậy, công việc tiếp quản tạm thời chưa thực hiện được. Thông tin, tư liệu về hoạt động của Bảo tàng trong giai đoạn 1946 - 1954 được lưu lại rất hiếm hoi hoặc được nhắc đến như một thông tin tham khảo nhưng lại rất quý giá: “GS. Trần Quốc Vượng có kể một sự kiện sau: Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. TS. Nguyễn Văn Huyên “đi kháng chiến và làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục Chính phủ (…) suốt mấy chục năm. Những người Pháp phụ trách EFEO đã niêm phong văn phòng của ông và đóng hòm tất cả tài liệu của ông để lại ở EFEO (…), cho xuống hầm bảo quản. Tháng 10/1954, sau khi Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên trở lại Hà Nội, EFEO đã trao lại cho ông tất cả các hòm tài liệu này cùng với các ấn phẩm của EFEO được in ấn sau năm 1945. Đấy là một cử chỉ đẹp, rất có văn hóa, rất Pháp” (Ngô Thế Long - Trần Thái Bình 2021: 100)
Đến khi Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954), Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp không thể tiếp tục hoạt động tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu, tài liệu lịch sử, cổ vật, sách vở (khoảng 60.000 hiện vật) và các cơ sở vật chất của Trường đã được bàn giao cho chính quyền Việt Nam Ngay sau khi bàn giao, Bảo tàng đã tiếp tục sưu tầm, bổ sung tài liệu, hiện vật và chuyển đổi nội dung từ loại hình bảo tàng nghệ thuật thành loại hình bảo tàng lịch sử xã hội. Sau 5 tháng, công việc chỉnh lý nội dung hoàn thành, đến 3/9/1958, Bảo tàng chính thức mở cửa đón khách tham quan, phục vụ mọi đối tượng công chúng với nội dung trưng bày giới thiệu về lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến hết triều Nguyễn (1945).
Trong quá trình hoạt động, phục vụ khách tham quan trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, trong chiến tranh cũng như sau khi hòa bình lập lại, đổi mới đất nước, Bảo tàng luôn được chỉnh lý, bổ sung kết quả nghiên cứu nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống trưng bày phù hợp với nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, trong các năm 1965, 1978, 1993, 1995 đều được bổ sung, chỉnh lý nhỏ, đặc biệt là đợt chỉnh lý, nâng cấp với quy mô lớn năm 1998 - 2000 mới làm thay đổi được diện mạo trưng bày. Vào thời điểm đó, hệ thống trưng bày này cũng được đánh giá là hiện đại với giải pháp trưng bày bắt kịp xu hướng phát triển, đặc biệt là sự chỉnh lý, bổ sung nội dung phản ánh lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội đóng vai trò chủ đạo trong các phần trưng bày… đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu công chúng trong và ngoài nước lúc bấy giờ và hệ thống trưng bày này duy trì phục vụ công chúng cho đến ngày nay.
Năm 2011, Bảo tàng Lịch sử quốc gia được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1958) và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (1959). Trên cơ sở đó, nội dung trưng bày được chỉnh lý, hoàn thiện giới thiệu đầy đủ lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến nay gồm: cơ sở 1 (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trước đây) giới thiệu lịch sử Việt Nam từ thời Tiền sử đến hết triều Nguyễn (1945) và cơ sở 2 (Bảo tàng Cách mạng Việt Nam trước đây) giới thiệu lịch sử Việt Nam từ năm 1958 đến nay.
Đến nay, trải qua hơn 90 năm, công trình vẫn vững vàng và luôn là hình mẫu cho mọi thế hệ kiến trúc sư nghiên cứu, tìm tòi làm cơ sở sáng tạo, thiết kế cho các công trình hiện đại đồng thời tòa kiến trúc cũng đã trở thành một phần di sản của Bảo tàng, nơi lưu giữ nhiều bảo vật, sưu tập hiện vật quý hiếm… hẳn đã phần nào thể hiện sự xứng tầm với giá trị của công trình thế kỷ này. Cũng 90 năm ấy, dù trải qua bao thăng trầm lịch sử, công trình với chức năng là một bảo tàng vẫn được duy trì, tiếp nối để đến ngày hôm nay nó đã trở thành Bảo tàng Lịch sử quốc gia, bảo tàng lớn nhất cả nước, bảo tàng đầu hệ trong hệ thống bảo tàng Việt Nam. Với những nỗ lực của các thế hệ cán bộ đã đưa Bảo tàng trở thành địa chỉ giáo dục tin cậy, địa điểm tham quan, trải nghiệm hấp dẫn du khách và có vai trò quan trọng trong tư vấn, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ các bảo tàng, di tích địa phương, bảo tàng chuyên ngành và là đầu mối, cầu nối giới thiệu lịch sử, văn hóa Việt Nam tới công chúng trong khu vực và trên thế giới.
Thu Hoan
* Ernest Hébrard (1875-1933) là kiến trúc sư, nhà khảo cổ học, nhà quy hoạch người Pháp. Ông là Giám đốc sở Quy hoạch kiến trúc Đông Dương thuộc Pháp. Ernest Hébrard được coi là kiến trúc sư khởi nguồn cho phong cách Kiến trúc Đông Dương. Trước khi trở thành Giám đốc sở quy hoạch kiến trúc Đông Dương thuộc Pháp, Ernest Hébrard là giáo sư của trường Mỹ thuật Đông Dương, một viên chức cao cấp được chính phủ Pháp đưa sang để phụ trách công việc quy hoạch và kiến trúc của ba nước Đông Dương. Ông gọi nó là “phong cách kiến trúc Đông Dương” (style indochinois). Thực chất đây là một phong cách chiết trung Âu - Á, trong đó không chỉ có chi tiết kiến trúc của ba nước Đông Dương mà có cả chi tiết kiến trúc Trung Quốc. Ernest Hébrard sử dụng “phong cách kiến trúc Đông Dương” rất sáng tạo và đã để lại những công trình rất có giá trị nghệ thuật.
Tài liệu tham khảo:
1. Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp và Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Kiến trúc các công trình xây dựng tại Hà Nội (1875 - 1945). NXB Thế giới, tp. Hồ Chí Minh, 2014, tr.21, 102, 103.
2. Philippe Papin. Lịch sử Hà Nội. NXB Thế giới, 2009, tr. 240-241.
3. Sắc lệnh số 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945. Trung tâm lưu trữ quốc gia III – Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.
4. Ngô Thế Long - Trần Thái Bình. Học viện Viễn Đông Bác cổ (giai đoạn 1898-1957). NXB Đại học Sư phạm, 2021.
5. Nguyễn Văn Trường. Trường Viễn Đông Bác cổ. Tạp chí Xưa và Nay, số 75 tháng 5 năm 2000, tr.27, 28.
6. http://www.archives.org.vn/tin-hoat-dong-cua-trung-tam/kien-truc-cac-cong-trinh-van-hoa-xay-dung-tai-ha-noi-thoi-ki-phap-thuoc.htm
10. http://m.designs.vn/tin-tuc/ernest-hebrard-kien-truc-su-dau-tien-dem-chat-phap-vao-viet-nam_135531.html.