Lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội hình thành và phát triển bởi sự đóng góp, cống hiến của nhiều triều đại, dòng họ, trong đó có vai trò trị vì anh minh, sáng suốt của các hoàng đế nhà Lê. Nhằm tưởng nhớ, tri ân các bậc minh quân, tiên hiền, tiên liệt trong công cuộc dựng nước và giữ nước, trong đó có việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển kinh đô Thăng Long, hôm nay (3-7-2010), Trung tâm giáo dục truyền thống lịch sử (Hội khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam) phối hợp với Hội đồng Họ Lê Việt Nam, Hội đồng Họ Lê TP Hà Nội và các nhà khoa học tổ chức hội thảo khoa học “Lê tộc Việt Nam và Hoàng đế Lê Thánh Tông với 1000 năm Thăng Long- Hà Nội”.
Lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội hình thành và phát triển bởi sự đóng góp, cống hiến của nhiều triều đại, dòng họ, trong đó có vai trò trị vì anh minh, sáng suốt của các hoàng đế nhà Lê. Nhằm tưởng nhớ, tri ân các bậc minh quân, tiên hiền, tiên liệt trong công cuộc dựng nước và giữ nước, trong đó có việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển kinh đô Thăng Long, hôm nay (3-7-2010), Trung tâm giáo dục truyền thống lịch sử (Hội khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam) phối hợp với Hội đồng Họ Lê Việt Nam, Hội đồng Họ Lê TP Hà Nội và các nhà khoa học tổ chức hội thảo khoa học “Lê tộc Việt Nam và Hoàng đế Lê Thánh Tông với 1000 năm Thăng Long- Hà Nội”.
Lê tộc tỏa sáng cùng nước Việt
Thực tế lịch sử Việt Nam và lịch sử 1000 năm Thăng Long-Hà Nội đã ghi nhận là Lê triều-thời Hậu Lê, kể cả thời Lê thịnh (còn gọi là Lê sơ) và thời Lê Trung Hưng, tồn tại trong 356 năm. Đây là một triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam. Họ tộc Lê bắt đầu từ Lê Hoàn-vị vua có công lao to lớn trong sự nghiệp dẹp Tống, bình Chiêm, giữ vững cơ đồ Đại Việt. Đây là cơ sở để Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn xuất hiện và kế thừa nhà Tiền Lê, làm nên sự nghiệp vẻ vang là dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.
Đến thế kỷ XV, nói đến kinh đô Thăng Long không thể không nhắc tới công lao vĩ đại của Anh hùng dân tộc Lê Lợi. Bến Bồ Đề ven đô Thăng Long từng là nơi Lê Lợi và Nguyễn Trãi chỉ huy vây hãm và bức Vương Thông phải đầu hàng, để đi tới Hội thề Đông Quan lịch sử (mà bằng chứng còn lưu giữ đến ngày nay là chùa Chân Tiên ở phố Bà Triệu). Sự tích rùa thần trả gươm ở hồ Hoàn Kiếm gắn liền với khát vọng hòa bình của vua Lê Thái Tổ đã trở thành một trong những huyền sử đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Hội thề Lũng Nhai và các chiến công oanh liệt Chi Lăng, Xương Giang, Tốt Động không chỉ làm rạng danh sự nghiệp hiển hách của vua Lê Thái Tổ cùng các vị khai quốc công thần thời đó, mà còn tô thắm vào lịch sử Việt Nam những trang vàng rực rỡ.
Dù không có những chiến công vẻ vang như thời Lê thịnh (Lê sơ), lịch sử nước Việt cũng ghi nhận nhiều đóng góp của thời Lê Trung Hưng (họ Lê và họ Trịnh). Đây là thời kỳ lịch sử liên kết đặc biệt của hai dòng họ Lê-Trịnh mà các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nội trị, ngoại giao cũng đạt được khá nhiều thành tựu. Ngoài sự phồn vinh của kinh kỳ Phố Hiến, giai đoạn này đã sản sinh ra nhiều bậc danh nhân như Bùi Huy Bích, Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Lê Hữu Trác, Ngô Thời Nhiệm, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Quý Đức…
 |
| Bia đá Tiến sĩ ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám. Ảnh:Thảo Huyền |
Trong thời đại Hồ Chí Minh (từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay), cùng với các họ tộc lớn khác như Trần, Trịnh, Nguyễn, Phạm, Vũ, Hoàng (Huỳnh), Mạc… Lê tộc Việt Nam đã phát huy truyền thống của ông cha, đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Lê Thánh Tông-đệ nhất minh quân, nhà văn hóa lớn
Ngoài việc khẳng định những đóng góp quan trọng của họ Lê trong tiến trình lịch sử Việt Nam và lịch sử 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, nhiều nhà khoa học đã dành tâm huyết, trí tuệ tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống về thân thế, sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông.
Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) tên húy là Tư Thành, hiệu là Thiên Nam động chủ, con thứ tư của vua Lê Thái Tông, cháu của vua Lê Thái Tổ. Ông lên ngôi năm 1460 và trị vì 38 năm với hai niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Lê Thánh Tông lên ngôi vua trong bối cảnh nước nhà đang cơn nguy biến, triều đình còn lục đục, mâu thuẫn, giặc ngoại bang lâm le xâm chiếm. Nhờ tài trí lỗi lạc và đạo đức cao cả, Lê Thánh Tông đã nhanh chóng chấm dứt được tình trạng bè phái trong nội bộ triều đình, khẩn trương ổn định tình thế, bình an thiên hạ, lãnh đạo xây dựng đất nước với nhiều cải cách táo bạo, mạnh mẽ từ chính trị, hành chính, kinh tế đến quân sự, luật pháp, đưa Đại Việt vươn lên cường thịnh thời bấy giờ.
Về chính trị, vua Lê Thánh Tông đã xây dựng một thiết chế quân chủ tập quyền cao độ nhằm tập trung quyền lực vào tay Hoàng đế, hạn chế sự tham chính của tầng lớp quý tộc hoàng tộc, loại trừ khả năng lộng quyền của các triều thần ở trung ương và tệ nạn tập trung quyền hành của các quan lại địa phương.
Trên lĩnh vực kinh tế, theo nhiều nhà nghiên cứu, vua Lê Thánh Tông đã có tư duy cải cách tích cực. Năm 1477, nhà vua đã cho thực thi chế độ quân điền, ban hành chế độ lộc điền; khuyến khích khai hoang, chăm sóc, tu bổ, quản lý đê điều, khai đào nhiều kênh ngòi để vừa tưới tiêu cho ruộng đồng, vừa chống thoát lũ và mở mang giao thông đường thủy; đồng thời cho đúc tiền, lập chợ, mở rộng ngoại thương.
Về quân sự, Đại tá, PGS.TS Lê Đình Sỹ (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam) cho rằng: Vua Lê Thánh Tông đã nêu lên những quan điểm quân sự, quốc phòng tiến bộ, thực hiện cải cách toàn diện nền binh bị nhà nước, làm cho quân đội gọn nhẹ nhưng tinh nhuệ, có quân thường trực tại ngũ mạnh và có lực lượng dự bị đông đảo. Thời kỳ này, nền quốc phòng được củng cố mạnh mẽ và lãnh thổ của đất nước bảo vệ vẹn toàn nhờ những chính sách quân sự phù hợp.
Sau nhiều năm nghiên cứu với tất cả niềm đam mê, lòng thành kính và bằng các dẫn chứng, tư liệu lịch sử xác đáng, GS.NGND Nguyễn Đình Chú khẳng định: Vua Lê Thánh Tông là một nhà văn hóa lớn. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều bài chiếu, chế, dụ, sở, cáo, sắc… hiện còn một số bài chép lại trong cuốn Thiên nam dư hạ tập. Về văn thơ, ông đã có nhiều tác phẩm trong Hồng Đức quốc âm thi tập, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn viết theo thể biền ngẫu. Về văn chữ Hán, ông có Liệt truyện tạp chí (Ghi chép tản mạn các chuyện), Lam Sơn lương thủy phú (Bài phú núi Nam sông Lương). Thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông có 9 tập, trong đó xen lẫn thơ họa, thơ bình của các vị quần thần đối với thơ Lê Thánh Tông. Các tác phẩm đó đều có chủ đề xuyên suốt là: Yêu nước, thương dân, yêu cảnh đẹp thiên nhiên, yêu những nhân cách lớn và luôn khát vọng đất nước vào thời no ấm, thịnh trị, kỷ cương. Phẩm chất văn hóa của Lê Thánh Tông còn thể hiện sâu sắc ở việc nhà vua đã cho sưu tầm tất cả những công trình, trước tác của danh nhân Nguyễn Trãi để lưu truyền cho hậu thế, làm sáng tỏ tấm lòng Ức Trai sáng tựa Sao Khuê (Ức Trai tâm thượng Quang Khuê tảo); đồng thời lập ra Hội Tao Đàn- một viện hàn lâm văn học đầu tiên ở nước ta, do nhà vua làm chủ súy.
“Phan Bội Châu đã từng chia các bậc anh hùng dân tộc thành ba loại: Dựng nước, cứu nước và mở nước. Dựng nước là các Vua Hùng. Cứu nước là các anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Còn mở nước là vua Lê Thánh Tông. Mở nước có nghĩa là trong hoàn cảnh độc lập đã đưa quốc gia phát triển cường thịnh. Lịch sử dân tộc cho thấy: Anh hùng cứu nước thì nhiều, nhưng mở nước thì ít. Ở thời trung đại, thiết tưởng không ai xứng đáng với danh hiệu Anh hùng mở nước bằng vua Lê Thánh Tông, nên ông càng xứng danh với Đệ nhất minh quân. Và Đệ nhất minh quân khác với các vị minh quân khác ở chỗ phải là một nhà văn hóa lớn”- GS.NGND Nguyễn Đình Chú nhấn mạnh.
Chính vì lẽ đó, nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa thống nhất cho rằng: Công lao vĩ đại và đức độ sáng ngời của nhà vua có đầy đủ tiêu chí để đề nghị UNESCO công nhận Lê Thánh Tông là Danh nhân văn hóa thế giới.
THIỆN VĂN
| Vua Lê Thánh Tông đưa nền khoa cử Đại Việt đến cực thịnh Trải qua mấy thế kỷ, từ thời Lý, Trần, Hồ đến đầu thời Lê sơ, việc thi cử chưa trở thành nền nếp. Nhưng đến thời vua Lê Thánh Tông, việc thi cử không những được duy trì thành nền nếp, mà còn trở nên cực thịnh. Sau khi lên ngôi được hai năm, vua Lê Thánh Tông đã đặt lệ “Bảo kết thi hương”, quy định rõ thủ tục giấy tờ của những người ứng thí. Sau đó, cứ ba năm Nhà nước mở một kỳ thi. Trong 38 năm trị vì của vua Lê Thánh Tông, triều Lê đã mở 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 510 tiến sĩ, trong đó có 9 trạng nguyên. Như vậy, tính bình quân mỗi khoa thi lấy đỗ hơn 40 tiến sĩ. Vua Lê Thánh Tông có hai niên hiệu là Quang Thuận và Hồng Đức. Nhà sử học Phan Huy Chú từng nhận xét: “Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức (1470-1497). Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp… Trong nước không để sót nhân tài, triều đình không dùng lầm người kém”. Điều đáng ghi nhận trong phép chọn người hiền tài ở các khoa thi, vua Lê Thánh Tông ngự ra điện Kính Thiên hoặc ra hiên, thân hành ra đề bài văn sách hỏi về đạo trị nước của các đế vương. Thật hiếm thấy một vị vua nào lại muốn lắng nghe kẻ sĩ, nghe lòng dân để sửa sang việc trị quốc như vua Lê Thánh Tông. Nền khoa cử dưới thời vua Lê Thánh Tông đã để lại cho hậu thế bài học sâu sắc. Đó là: Nền khoa cử quảng đại cho mọi tầng lớp nhân dân có học đều được tham gia thi; nền khoa cử được tiến hành đều đặn, số lượng nhiều hơn hẳn và chất lượng cao hơn nhiều. Nền khoa cử thời đó đã thực sự chọn được nhiều hiền tài tham gia triều chính, bổ dụng làm quan từ trung ương đến địa phương-những người trung quân ái quốc, lòng dân ngưỡng mộ. Bài học lịch sử của nền khoa cử thời vua Lê Thánh Tông đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khoa cử xưa, đào tạo và thi cử ngày nay tạo dòng tri thức, trí tuệ của quá khứ, hiện tại và tương lai để góp phần làm cho dân cường, nước thịnh. Đại tá, PGS.TS LÊ BÁ HÙNG (Học viện Quốc phòng) Bộ luật Hồng Đức, thành tựu đỉnh cao lập pháp phong kiến Việt Nam Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức hoặc Luật hình triều Lê là bộ luật phong kiến Việt Nam xưa nhất và hoàn chỉnh nhất còn lưu giữ được đầy đủ cho đến ngày nay. Đây là bộ luật được xây dựng và hình thành từ những năm đầu của thời Hậu Lê, dưới thời Lê Thái Tổ. Qua các triều vua Lê, Bộ luật được bổ sung và được hoàn chỉnh trong niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), tức dưới thời vua Lê Thánh Tông-một vị vua có những quan điểm tiến bộ trong cách quản lý và điều hành đất nước. Vua Lê Thánh Tông coi trọng pháp luật trong việc trị nước nên ông chủ trương phát huy những điểm mạnh của pháp trị. Điều này lý giải việc Quốc triều hình luật trở thành công trình pháp điển hóa tiêu biểu trong lịch sử lập pháp Việt Nam thời kỳ phong kiến và được áp dụng phổ biến trong một giai đoạn dài, từ thời Lê sơ qua các triều đại phong kiến sau này đến thế kỷ XVIII. Quốc triều hình luật được mở đầu bằng ba biểu đồ quy định về kích thước các hình cụ, tang phục và việc để tang. Phần còn lại gồm 722 điều luật tập hợp trong 13 chương và chia làm 6 quyển (mỗi quyển 2 chương, riêng quyển 3 có 3 chương). Tất cả các quy phạm pháp luật trong Bộ luật đều được xây dựng dưới dạng những quy phạm pháp luật hình sự và đều áp dụng chế tài hình sự. Quốc triều hình luật bao gồm các ngành luật: Luật hình, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật dân sự, Luật tố tụng. Đã qua hơn 5 thế kỷ, đến nay, các nghiên cứu khoa học của giới sử học và luật gia (trong đó có nhiều người giữ cương vị lãnh đạo cao của Đảng và Nhà nước) đều đánh giá rất cao giá trị lịch sử và đương đại của Quốc triều hình luật gắn với tên tuổi vua Lê Thánh Tông. Có thể khái quát những giá trị đó tập trung vào các vấn đề chủ yếu: Sự kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị trong đạo trị quốc, an dân của Lê Thánh Tông; Công trình mang đậm bản sắc văn hóa pháp lý và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam; Quan hệ tài sản và thừa kế trong gia đình-một điểm sáng của Quốc triều hình luật; Việc bảo vệ quyền lợi người phụ nữ, trẻ em, người già yếu, cô đơn, không nơi nương tựa; Xác lập chế độ sở hữu và quản lý đất đai dưới chế độ phong kiến; Chính sách xử lý tội phạm và hình phạt trong Quốc triều hình luật; Những quy định về tố tụng trong Quốc triều hình luật. Bên cạnh đó, hàng loạt vấn đề được quan tâm nghiên cứu chung quanh Quốc triều hình luật và Lê Thánh Tông, đó là cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng, đào tạo và sử dụng đội ngũ quan lại, cải tổ hành chính, hoàn thiện, củng cố tổ chức nhà nước theo hướng trung ương tập quyền, giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật với phong tục, tập quán và mối kết hợp giữa pháp luật và đạo đức… từ đó rút ra những bài học bổ ích trong cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay. Luật gia PHÙNG NGỌC ĐỨC (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật-Bộ Tư pháp) |