Thứ Hai, 19/01/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

08/07/2010 08:10 3864
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Mặc dù có những thay đổi theo thời gian nhưng về cơ bản việc thi cử thời xưa vẫn có những điểm chung về địa điểm tổ chức thi, các vị trí quan trường và điều luật.
Mặc dù có những thay đổi theo thời gian nhưng về cơ bản việc thi cử thời xưa vẫn có những điểm chung về địa điểm tổ chức thi, các vị trí quan trường và điều luật.

Thi cử là một biện pháp kiểm tra kiến thức, lựa chọn những người có khả năng, học vấn, tri thức rộng để sử dụng vào làm trong các cơ quan của từ triều đình cho đến các phủ, huyện. Sử liệu ở Việt Nam về thời kỳ Lý, Trần, Hồ không còn nhiều, các ghi chép liên quan đến khoa cử dưới các triều đại này hầu như không có, những gì còn lại thì tản mạn, sơ sài. Chỉ từ thời Hậu Lê trở về sau thông tin, dữ liệu liên quan đến thi cử mới đi vào hoàn thiện và được ghi chép đầy đủ, mặc dù có những thay đổi theo thời gian nhưng về cơ bản vẫn có những điểm chung. Dưới đây là 3 điều ít được đề cập cụ thể liên quan đến việc tổ chức thi cử thời xưa:

Tràng Thi - trường thi

Trường thi là một khoảng đất trống rộng được chọn để làm trường thi, phần lớn là địa điểm cố định được sử dụng qua nhiều khoa thi, như khu vực phố Tràng Thi ở Hà Nội, trước đây là địa điểm tổ chức các khoa thi, từ đó về sau mà có tên gọi như vậy. Tuy nhiên cũng có năm vì lý do nào đó mà trường thi được thay đổi địa điểm, ví dụ như khoa thi năm Mậu Thìn (1688), năm đó địa điểm thi được lựa chọn ở một nơi rất đặc biệt, đó là bãi giữa sông Hồng. Bia Tiến sĩ khoa thi năm này có đoạn viết: “Tháng 11 mùa đông năm Mậu Thìn niên hiệu Chính Hòa thứ 9 thi Hội, các cống sĩ trong nước dựng trường thi ở bãi giữa sông Nhị Hà (tức sông Hồng), vì mùa đông quá lạnh, muốn để cho các viên chấp sự và các cử nhân được thuận tiện”.

Về trường thi, phía ngoài được rào dậu xung quanh bằng tre, nứa vây kín bốn mặt. Để đảm bảo an toàn và trật tự cho kỳ thi, triều đình sai binh lính đứng canh phòng, lại dùng lính kị mã cưỡi ngựa qua lại giám sát. Bên trong trường thi chia làm 3 khu vực: Khu nội liêm là nơi dành cho khảo quan, khu ngoại liêm dùng cho các quan giám thị và khu vực dành cho sĩ tử. Hai khu vực kia được dựng nhà, lợp mái còn khu vực dành cho sĩ tử chỉ là khoảng đất trống, người dự thi phải chuẩn bị trước cho mình một chõng và một lều nhỏ được đan bằng tre để mang vào rồi chọn cho mình một chỗ để dựng lều đặt chõng, lấy đó làm nơi che chắn nắng mưa, đây cũng là nơi sĩ tử làm bài thi.

Cả trường thi được chia làm 8 ô vuông, có một đường chạy dọc, một đường chạy ngang ở chính giữa chia 8 ô thành 4 khu bằng nhau, đường đó gọi là đường Thập đạo. Ở chính giữa trung tâm, nơi giao nhau của hai đường Thập đạo có một ngôi nhà được dựng ở đó, gọi là nhà Thập đạo có một cửa duy nhất nhìn ra ngoài, gọi là cửa tiên. Trên đường thập đạo, bố trí theo hàng ngang, người ta cho dựng 3 chòi canh, một chòi nằm ở chính giữa, hai chòi khác dựng hai bên. Đây là nơi các quan trông coi trường thi ngồi quan sát thí sinh làm bài.

Xem điểm thời xưa. (Tranh, ảnh tư liệu minh họa)

Các vị trí quan trường

Quan trường là những người đảm trách nhiệm vụ trong kỳ thi, tham gia tổ chức, trông coi, chấm thi, dâng quyển… ở kỳ thi Hương và tại thi Đình. Về cơ bản, quan trường trong các khoa thi gồm có: Đề điệu: Chánh chủ khảo, phụ trách việc kiểm soát trường thi; Giám thí: Phó chủ khảo các trường thi; Tri cống cử: Quan kiểm tra, lập danh sách thí sinh thi; Tuần xước: Đứng đầu các quan giám thị ghi ký hiệu lên quyển thi, niêm phong hòm đựng quyển tại các trường thi; Thu quyển: Phụ trách thu bài thi của thí sinh; Di phong: Phụ trách dọc phách và niêm phong quyển thi; Đằng lục: Người sao chép bài thi của thí sinh (thời xưa chấm điểm ở bản sao này chứ không chấm trực tiếp vào bài thi chính để tránh nhận ra chữ người quen mà chấm sai lệch kết quả); Đối độc: Người đọc đối chiếu giữa bài thi bản gốc và bản sao soát lại, đối chiếu quyển quyển văn của thí sinh trước khi đưa cho khảo quan chấm; Độc quyển: Người phụ trách chấm bài thi; Giám thị: Có chức trách giữ gìn an ninh cả phạm vi trường thi.

Những điều luật đầu tiên về xử lý vi phạm trường thi

Muốn lấy được người có tài phải đảm bảo sự công bằng trong các kỳ thi, kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với các hiện tượng tiêu cực, thiếu trung thực trong thi cử nhằm lập lại trật tự kỷ cương, đánh giá đúng chất lượng học tập của học trò. Có như vậy người học mới nỗ lực học tập, cố gắng rèn luyện, dùi mài kinh sử, vì thế công bằng chính là một nền tảng quan trọng trong chọn người tài mà cũng đồng thời là sự khuyến khích học tập.

Trong Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), bộ luật nổi tiếng nhất trong lịch sử lập pháp thời phong kiến ở nước ta cũng có một số điều quy định liên quan đến vấn đề này. Có thể nói nó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền giáo dục, thi cử thời Hậu Lê.

Đối với những người phụ trách chấm thi, luật quy định rất rõ ràng như sau: “Quan chấm thi quan hệ bà con với kẻ dự thi, phải hồi tị, kẻ ấy không hồi tị thì bị phạt 50 roi, biếm 1 tư. Nếu là quan di phong (niêm phong quyển thi), đằng lục (sao chép bài thi) thì phạt 80 trượng. Nếu là thi Hương thì được giảm một bậc. Các khảo quan (khi không có hồi tị) thì cũng được giảm một bậc cùng với quan di phong, đằng lục. Không cần hồi tị mà hồi tị thì xử cũng như thế” (điều 98).

Chế độ hồi tị được áp dụng lần đầu tiên vào năm Bính Ngọ (1486) đời Lê Thánh Tông. Nghĩa tiếng Hán thì “hồi tị” là “tránh đi” hoặc “lánh đi”; đây là khái niệm chỉ chế độ làm việc và xây dựng bộ máy chính quyền. Theo đó những người có quan hệ cha con, anh em, thầy trò, bạn bè...không được cùng làm quan hay làm việc một chỗ; hoặc quan lại không được làm việc tại bản quán, quê vợ...; hoặc khi đảm trách công việc nào đó có thể gây ra những hành vi có lợi cho nhau, trái với quy định chung. Nếu ai gặp một trong những trường hợp nêu trên thì phải tâu lên để xin luân chuyển, phân công đi làm ở nơi khác. Mục đích nhằm tránh việc những người có quan hệ thân thiết, gần gũi thường nể nang nhau, làm việc không khách quan khi gặp người thân quen; tránh việc bao che cho nhau gây tiêu cực, làm bộ máy chính quyền hoạt động kém hiệu qủa.

Về các thi sinh tham gia dự thi, tại điều 99 Bộ luật Hồng Đức quy định việc xử lý đối với hành vi gian dối như sau: “Các cử nhân vào thi Hội (Ngự thí) mà mượn người làm bài cho mình thì cả hai đều bị biếm 3 tư. Thi Hương thì biếm 2 tư. Ai giấu đem sách vở vào trường thi thì phạt 80 trượng”.

Về trách nhiệm giám sát, kiểm tra của các quan coi giữ tại trường thi, luật quy định: “Khi thi Hương, thi Hội mà các quan có nhiệm vụ xét kẻ mang giấu sách bài mà không làm việc ấy, hay làm qua loa thì bị phạt 60 trượng. Biết mà cố ý dung túng thì cũng xử tội như thế” (điều 101).

Lê Thái Dũng (sưu tầm)
baodatviet.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 9592

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Màu của Huế xưa

Màu của Huế xưa

  • 07/07/2010 11:06
  • 3700

Phải! Pháp lam đã mang lại cho cung điện, đền đài của Huế sự lộng lẫy bởi những gam màu tươi sáng, rực rỡ và trường cửu. Nhờ đó mà trải bao biến cố và thăng trầm, Cố đô Huế đã không mang dáng vẻ u tịch và cô liêu lẽ ra phải có, khiến cho một nhà bỉnh bút của UNESCO đã phải thốt lên: Hué toujours recommencé (Huế luôn luôn mới).