Thứ Tư, 13/05/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

05/07/2010 11:35 3446
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Giảng Võ trường giờ chỉ còn lại trong ký ức và sử sách. Người đời sau chỉ biết có một Giảng Võ trường ở phía Tây kinh thành, nơi súng nổ, ngựa hý, quân reo mang âm hưởng hào hùng của một thời.

Giảng Võ trường giờ chỉ còn lại trong ký ức và sử sách. Người đời sau chỉ biết có một Giảng Võ trường ở phía Tây kinh thành, nơi súng nổ, ngựa hý, quân reo mang âm hưởng hào hùng của một thời.

Đầu thế kỷ XV, sau khi khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của nhà Minh thắng lợi, nhà Lê được thành lập. Cùng với sự phục hưng phát triển kinh tế văn hóa thì việc quan tâm đến xây dựng và phát triển quân đội cũng được triều đình quan tâm chú ý, trong đó có việc xây dựng Giảng Võ trường nơi đào tạo chỉ huy và quân sĩ quân đội.

Theo tài liệu lịch sử ghi chép từ đầu thời Lê, khu vực phía tây Thăng Long đã được sử dụng, xây dựng thành một trung tâm huấn luyện khảo hạch và diễn tập quân sự của quân đội: "Lê Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ hai (1429) ra lệnh cho các tướng hiệu và quân nhân các vệ quân 5 đạo tập trận thủy và bộ... niên hiệu Thuận Thiên thời Lê Thái Tổ ở trên núi Khán Sơn dựng điện Giảng Võ, vua thường tới ngự duyệt quân xem bắn".

d
Vị trí điện Giảng Võ trong An Nam bình thắng đồ (A 2531).


Thời Lê Thái Tông năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) ra lệnh cho các quân Ngự Tiền và các vệ quân 5 đạo, đến đầu mùa xuân đều phải đến địa phận Đông Kinh để điểm mục và tập võ nghệ...

Năm 1437, Lê Thái Tông đặt luật lệ khảo thí võ nghệ các tướng hiệu trong các quân vệ như sau: phép thi gồm 3 môn bắn cung, ném tên, đánh mộc...

Việc này sau định làm lệ thường. Đời vua Lê Thánh Tông việc huấn luyện quân sĩ trở thành quân lệnh và thể thức đào tạo tướng lĩnh của trường dạy võ Thăng Long được quy định chặt chẽ: các con, cháu trưởng các tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng các quan văn võ hàm nhị phẩm, tam phẩm nếu xin học võ nghệ sẽ được giao cho các quan thuộc vệ Cẩm Y huấn luyện.

Võ sinh hằng ngày phải đến trường Giảng Võ ở phía tây kinh thành tập luyện các môn bắn cung, phóng lao, đâm khiên, cưỡi ngựa... Qua một năm tập luyện, đến tháng chạp võ sinh phải thi sát hạch.

Sau 3 năm tập luyện, võ sinh được thi dự tuyển chọn do Bộ Binh đứng ra tổ chức, tùy theo đức tài, công lao mà cất nhắc dần lên...".

Để đáp ứng cho nhu cầu tập luyện, thi, diễn võ bị, tại Giảng Võ trường, năm 1481, Lê Thánh Tông cho xây dựng điện Giảng Võ với quy mô lớn hoàn chỉnh: "Mùa đông tháng 10, đào hồ Hải Trì, hồ này quanh co đến trăm dặm. Giữa hồ có điện Thúy Ngọc, bên hồ xây điện Giảng Võ để tập luyện điểm binh mã".

Như vậy, đến thời kỳ này toàn bộ những hoạt động, tuyển chọn, đào tạo, tập luyện và thao diễn quân sự đều được tập trung về một địa điểm đó là Giảng Võ trường. Giảng Võ trường hoạt động cho đến năm 1664 mới dần mất vai trò của nó, điện Giảng Võ trở thành trường thi văn với tên gọi là Hội thi trường.

Trong hơn 300 năm tồn tại, được xây dựng và dần phát triển, Giảng Võ trường là nơi đào tạo tướng lĩnh, huấn luyện binh sĩ của nhà Lê. Đây có thể coi là trường Võ bị quốc gia đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam. Việc tuyển chọn, huấn luyện tướng sĩ được quy định nghiêm chỉnh, học đi đôi với hành (thao diễn) để chọn những người có tài đức, công lao mà cất nhắc dần lên.

(còn nữa)

Lê Đình Phụng

bee.net.vn

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 10627

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

Ỷ Lan Nguyên phi

Ỷ Lan Nguyên phi

  • 05/07/2010 09:32
  • 3479

Vào năm Quý Mão (1063), vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi mà vẫn chưa có con kế vị. Nhà vua rất lấy làm phiền não, thường đi cầu tự ở nhiều đền chùa. Một hôm, vua đi cầu tự ở chùa Dâu, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.