| Tháng 6/1437, vua Lê Thái Tông xuống chiếu nói rằng: "Lê Sát chuyên quyền, giết người tài, giết Lưu Nhân Chú để ra oai, truất quyền của Trịnh Khả để mong người khác bái phục, bãi chức tước của Bùi ư Đài để khiến cho đình thần không ai dám nói. Nay, trẫm muốn khép vào hình luật để tỏ rõ phép nước, nhưng vì Lê Sát là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước nên đặc cách khoan tha, song phải bãi hết chức tước". Tháng 7/1437, vua Lê Thái Tông phế nguyên phi Lê Thị Ngọc Dao (con gái của Lê Sát) làm thường dân. Sau đó nhà vua ban tiếp chiếu chỉ thứ hai rằng: "Tội của Lê Sát phải đáng giết, không thể dung thứ được. Lẽ phải đem Lê Sát chém để rao, nhưng trẫm đặc ân miễn cho, không giết, duy có Đặng Đắc là kẻ bày mưu cho Lê Sát, làm nguy hại đến xã tắc thì phải chém bêu đầu". Cuối tháng 7, nhà vua đã hạ lệnh cho Lê Sát phải tự tử tại nhà, vợ con và điền sản đều bị tịch thu. Vậy Lê Sát đã mắc trọng tội gì để đến nỗi bị cái án thảm khốc như vậy? Sách " Đại Việt thông sử" viếtS: "Lê Sát người làng Bỉ Ngũ (Lam Sơn), là bậc trí dũng song toàn. ông theo vua (Lê) Thái Tổ khởi binh, từng trải qua nhiều gian lao nguy hiểm, lập được nhiều công lao. Lê Sát là một trong những người đầu tiên hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của quân Minh do Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo. Nhờ có võ nghệ rất cao cường lại dũng cảm và giàu mưu lược, ngay từ đầu, Lê Sát đã được Lê Lợi tin cậy mà trao quyền chỉ huy một trong những đơn vị nghĩa sĩ của Lam Sơn. Cuộc đời của Lê Sát là cuộc đời của một võ tướng, một lòng một dạ chiến đấu vì nghĩa cứu nước, cứu dân và tuyệt đối trung thành với Lê Lợi. ông đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại đầu thế kỷ thứ XV. Năm Đinh Mùi (1427), nhờ có nhiều công lao, Lê Sát được được phong chức Thiếu úy, sau đó là Tư mã. Năm 1428, Lê Sát được phong là Nhập nội kiểm hiệu Tư khấu, Bình chương quân quốc trọng sự, hiệu là Suy trung tán trị, Hiệp trung, Mưu quốc công thần. Năm 1429, ông được phong tước Huyện Thượng hầu. Năm 1433, Lê Sát được phong hàm Đại Tư đồ. Năm 1434, ông được trao quyền Tể tướng. Lê Sát là người rất có tài, đặc biệt là tài cầm quân, nhưng ông thường khiến cho người ta sợ mà theo nhiều hơn là khiến cho người ta phục mà theo. Tuy quyền cao chức trọng, nhưng về phương diện chính trị, ông không phải là người sâu sắc. Sách " Đại Việt thông sử" viết: "ông hăng hái lo tròn bổn phận phò vua và sửa sang các việc, dám can gián và nói điều ích nước, nhưng ông là võ tướng, ít hiểu đại thể chính trị, xử việc thường theo ý riêng, tính thẳng thắn nhưng làm mà ít nghĩ đến hậu hoạ. Lại nữa, ông là người nóng tính và ghét Tư khấu Lưu Nhân Chú nên đã kiếm cớ vu cáo để giết đi, lại còn đang tâm mà đuổi cả người em của Lưu Nhân Chú là Lưu Khắc Phục đang làm Hành kiển Nam Đạo phải đi làm Phán thủ Đại Lý Chính, do đó, các công thần đều ghê sợ. ông thường dùng hình phạt rất nặng nề, nghiêm khắc và tàn bạo. Giám sinh Nguyễn Đức Minh theo gia đình trường Giám, thấy có lá thư nặc danh dán ở trên tường một ngôi chùa dọc đường, trong thư nói Đại Tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn cùng lập mưu để giết Phán Quan Sĩ (tức Lưu Nhân Chú). Anh ta bô bô gọi mọi người tới xem, song thì lấy xé bỏ đi. Có người đến tố cáo chuyện đó với Lê Sát, ông cho rằng chính viên giám sinh ấy viết ra, liền sai bắt để tra khảo nhưng anh ta quyết không nhận. Khi Lê Sát tính đem viên giám sinh ra chém thì hình quan cho rằng tội trạng chưa rõ, vì thế Lê Sát giảm tội chết cho anh ta, nhưng bắt phải đi đày và tịch thu hết gia sản. Người của Uy Viễn Quân là Nguyễn Bẩm cùng với viên Trung quân Thiết Đột là Trình Thọ Lộc thường hay bày kế để rủ rê bọn nô tỳ của nhà nướcN, đem họ dâng cho các quan. Quan Tư mã là Lê Liệt (tức Đinh Liệt) bắt được, liền đem chuyện tâu lên. Lê Sát lập tức bắt cả hai ra tra tấn ngay giữa sân điện rồi đem chém. ông lại sai điều đám thợ sơn ở Tất Tác Tượng Cục đến làm việc ở chùa Báo Thiên. Do phải làm việc cực nhọc nên người thợ sơn tên là Cao Sư Đãng có nói vụng rằng: "Thiên tử thì thất đức, đến nỗi hạn hán. Đại thần thì ăn của đút, cắt cử người chẳng có chút công lao. Thiện tâm đã không có, xây chùa to mà làm gì?. Lời ấy bị người khác tố cáo, trong khi các quan trong triều đều xin miễn tội chết cho Cao Sư Đãng, thì một mình Lê Sát muốn giết Đãng và cuối cùng Đãng bị chém đầu. Bấy giờ, quan giữ chức Đồng tri Bắc Đạo là Bùi ư Đài tâu xin chọn các bậc kỳ lão vào chầu để khuyên răn nhà vua và xin đặt chức Sư Phó để chỉ bảo cho các quan. Lê Sát thấy lời tâu ấy thì giận lắm, xin giao Bùi ư Đài cho ngục quan xét hỏi, ghép ư Đài vào tội ly gián vua tôi. Nhà vua không nghe. Lê Sát tâu đi tâu lại đến ba bốn lần mà nhà vua vẫn không chịu. Bọn Thiên Hựu, Cầm Hổ và cả quan Hữu Bật là Lê Văn Linh đều đồng ý với Lê Sát. Nhà vua bất đắc dĩ phải đày Bùi ư Đài đi xa nhưng lòng vua đã bắt đầu ghét bỏ Lê Sát". Vua Lê Thái Tông (tên là Nguyên Long) là con thứ của Lê Lợi. Khi lên làm vua, Thái Tông mới 11 tuổi nên việc gì cũng do quan Phụ chính Lê Sát quyết định. Khi vua đã đủ lớn, đã có đầu óc hiểu biết phán đoán, Lê Sát vẫn còn tham quyền cố vị, nhiều lúc muốn lấn át cả vua cho nên vua càng chán ghét ông, muốn loại trừ ông để tự mình thâu tóm quyền hành. Sự ghét bỏ của vua Thái Tông đối với Lê Sát càng ngày càng rõ, rất tiếc là Lê Sát nhận biết điều này quá chậm. ông mải mê, say sưa với quyền lực mà quên cả việc đề phòng hậu họa. Cuối cùng, đại họa thảm khốc đã giáng xuống đầu ông vào mùa hè năm 1437. Đến năm 1453, dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443 -1459), nhà vua mới cho ông là bị tội oan, bèn cấp cho con cháu ông 100 mẫu ruộng để thờ tự. Năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Lê Sát được truy tặng là Thái Bảo, Cảnh Quốc Công. | Luật nay: Muốn kết tội, phải có chứng cứ Khi vua Lê Nhân Tông gỡ bỏ cho Lê Sát mối oan thì ông đã ngậm cười nơi suối vàng. Việc nhà vua cấp cho con cháu ông 100 mẫu ruộng để thờ tự chỉ là cách duy nhất để an ủi vong linh ông một phần nào. Việc nhà vua bắt Lê Sát phải tự tử chết ngay tại tư gia có phần quá cay nghiệt, nhất là khi ông là quan Tể tướng, là một vị khai quốc công thần của nhà Lê. Hơn nữa, ông bị vua bức chết trong khi những chứng cứ kết tội ông trong vụ án này còn chưa được rõ ràng. Đành rằng thời phong kiến vua bảo chết thì thần dân không thể không chết nhưng quyết định này của nhà vua khiến cho Lê Sát và con cháu ông không phục. Nếu nói rằng Lê Sát chuyên quyền, giết hại người tài thì hơi khiên cưỡng bởi lúc đó Lê Sát chỉ là quan tể tướng, dù trên muôn người nhưng vẫn dưới một người chính là nhà vua. Do vậy, dù Lê Sát có trình tấu với vua việc phải giết người này hay tha tội chết cho người kia thì đó cũng chỉ là những lời trình tấu của cấp dưới với cấp trên, quyết định cuối cùng vẫn là ở nhà vua và nhà vua phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Do vậy, nhà vua là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc giết Lưu Nhân Chú hay Cao Sư Đãng chứ không phải là Tể tướng Lê Sát. Có thể trong quá trình làm quan, Lê Sát đã quá nghiêm khắc nhưng vốn xuất thân là một võ tướng, điều này là không thể tránh khỏi. Tội của ông, cùng lắm là biếm chức, bắt làm dân thường, không đáng phải nhận tội chết. Hơn nữa, vì Lê Sát là quan tể tướng, nên khi buộc tội ông, ngoài việc phải có đầy đủ chứng cứ kết tội, nhà vua còn phải tham khảo thêm ý kiến của các quan trong triều thì mới đảm bảo tính khách quan, vô tư. Đằng này vua lại một mình ban chiếu, lúc đầu là cách chức sau buộc Lê Sát phải chết là khiên cưỡng và chưa khách quan. Nếu chiếu theo luật pháp thời nay, tội trạng của Lê Sát sẽ phải được đưa ra xem xét bởi một phiên tòa. Trong phiên tòa ấy, cơ quan tiến hành tố tụng (thời đó là nhà vua) phải chứng minh được hành vi của Lê Sát đã phạm vào tội gì, đáng phải xử phạt ra sao. Cho dù Lê Sát có đáng tội chết thì cũng phải có một bản án và chứng cứ rõ ràng. Không ai bị coi là có tội nếu chưa có bản án có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Đó là tính ưu việt của pháp luật ngày ngay. Trong phiên tòa xét xử Lê Sát (theo luật pháp ngày nay), HĐXX sẽ xem xét toàn diện những tội trạng của Lê Sát (nếu có) và lượng hình trên cơ sở công và tội của ông đối với đất nước. | Ánh Dương |