| Về mặt văn chương, đây là một bài thơ hay, nhưng ở đây người ta chỉ soi mói nội dung, xem dụng ý của tác giả là gì. Thực ra bài thơ này, tác giả gửi cho bạn ở Aỏi Châu (Thanh Hoá), vì từng nghe tiếng là bậc hiền nhân danh sỹ đời ngay, nên trong lòng mến mộ khát khao được gặp gỡ. Những từ "ngọc phát kinh sơn, ngựa kỳ Ký bắc, hương thơm bay hang tối, tiếng phượng gò cao" là những lời hoa mỹ dùng để tâng bốc tài năng, danh vọng của bạn. ở đây không thấy một chữ, một ý gì tỏ ra chê bai vua chúa hay oán hận triều đình khiến người ta lấy cớ để buộc cho tội phản nghịch. Tất cả chứng cứ trong "vụ án bài thơ giết người" đều gói gọn trong 14 chữ cuối cùng: "Thử hồi nhược đắc Sơn trung tể. Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky". Tích xưa kể lại rằng: Đào Hoằng Cảnh, người Trung Quốc đời Lương Vũ Đế (502 - 549) tài cao học rộng, không ra làm quan mà ở ẩn trong núi, mỗi khi nhà vua có việc gì khó khăn, phải sai người vào núi hỏi ý kiến. Vì thế người đương thời gọi là Sơn trung Tể tướng (quan Tể tướng trong núi). Tác giả bài thơ là một anh học trò, sao lại tham vọng có một vị Sơn trung Tể tướng để làm gì? "Để giúp nhau xoay đổi cơ hội này (Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky) dòm ngó mạng trời, rủ nhau cướp nước làm vua, chứ còn gì nữa? Chính cái tham vọng ghê gớm ấy chứng tỏ một âm mưu phản nghịch. Dưới chế độ quân chủ độc tôn, một lời nói phạm thượng, một câu phạm huý cũng đủ mắc tội nữa là một bài thơ tham vọng ghê gớm như trên. Tác giả bài thơ này, đúng hơn là bị vu cáo là tác giả - lại là Nguyễn Văn Thuyên, con ông Nguyễn Văn Thành, Trung quân đô thống chế, tước Quận công, hiện đang làm quan to nhất trong triều! Một điều rất oái oăm là, chính vì công danh phú quý to quá mà trong thâm tâm nhà vua không ưa ông lắm và Nguyễn Văn Thành còn bị nhiều người ghen ghét, nhất là đại thần Lê Văn Duyệt. Từ hội thơ phú mà Lê Văn Duyệt đã có trong tay bài thơ trên do Hựu Nghi và Trương Hiệu mang đến tố giác, nói là do Nguyễn Văn Thuyên viết ra. Lập tức Lê Văn Duyệt mang ngay bài thơ - tang chứng này mật tâu với vua Gia Long. Lúc đầu vua Gia Long xem, cho là việc chưa rõ ràng nên bỏ qua không tra xét. Về sau Hựu Nghi, Trương Hiệu bày ra trò mua chuộc người khác vu cáo cha con ông Thành, nhà vua đưa vụ án này ra xét xử công khai, giao cho Lê Văn Duyệt đích thân tra hỏi Thuyên, buộc Thuyên phải thú nhận tội lỗi. Dựa vào việc người con đã nhận tội, đình thần buộc cả tội ông Thành, tâu vua xin xử tử. Đến tháng 5 năm 1817 (niên hiệu Gia Long thứ 16), vụ án cha con ông Thành trải qua một năm rưỡi, triều thần xử một lần nữa, vẫn buộc tội, lại ghép vụ án này với một vụ khác ở Thanh Hoá mà cha con ông không thừa nhận. Khi ấy ở trấn Bắc Thành (Bắc Hà) có vụ án xử Lê Duy Hoán vào tội phản nghịch triều đình, đệ trình vào kinh để Bộ Hình xét lại. Lê Duy Hoán khai rằng là do Nguyễn Văn Thuyên xúi làm phản. Đình thần xin bắt giam cha con ông Thành rồi tra hỏi Nguyễn Văn Thành có làm phản không, thì Thành đáp: "Không!". Sau đó, vua ban chiếu cấm Nguyễn Văn Thành từ nay không được vào chầu nữa. Ngay tối hôm đó, Nguyễn Văn Thành ngồi viết tờ biểu trần tình để lại. Trong tờ biểu có câu: "Người ta sớm rèn tối luyện kết thành tội cực ác cho cha con tôi, không còn kêu oan vào đâu được nữa, chỉ còn có chết mà thôi!". Sau đó, Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc tự vẫn, thọ 60 tuổi. Mấy hôm sau, đến lượt Nguyễn Văn Thuyên bị trói tay, gông cổ điệu ra pháp trường để quân đao phủ cắt từng miếng thịt (tùng xẻo). Trong lúc đó thì Trương Hiệu nghênh ngang vào kho lĩnh 500 quan tiền vua thưởng! Thế là chỉ vì một bài thơ đùa bỡn ngông cuồng mà cha con đại thần Nguyễn Văn Thành phải trả giá bằng cả tính mạng. | Luật nay: Không thể khép tội người khác với chứng cứ là một bài thơ Thực ra nguyên nhân dẫn đến vụ án trên là gì? Nước Việt Nam từ trước đời vua Gia Long còn phân chia thành Đàng trong và Đàng ngoài, chính trị pháp luật khác nhau. Từ Đèo Ngang trở ra Bắc, thuộc về quyền cai trị của vua Lê - chúa Trịnh, về luật pháp đã có Bộ luật Hồng Đức từ thời vua Lê Thánh Tông. Từ Đèo Ngang trở vào thuộc quyền cai trị của các chúa Nguyễn, trải qua hơn hai trăm năm mà chưa có luật pháp rõ ràng. Năm 1802, Nguyễn Phúc ánh thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế ở kinh đô Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, quốc hiệu là Việt Nam. Năm Gia Long thứ 10 (1811), vua truyền cho đình thần lập một hội đồng chuyên việc làm luật, chỉ định quan đại thần Nguyễn Văn Thành đứng đầu hội đồng biên soạn bộ luật. Nguyễn Văn Thành và các cộng sự của mình đã làm việc ròng rã hơn hai năm mới xong. Bộ luật mới này dựa chủ yếu vào luật nhà Thanh - Trung Quốc, gồm 398 điều, gọi là Hoàng triều luật lệ hay là Luật Gia Long. Luật Gia Long được đánh giá là tàn bạo, cứng nhắc, đề cao quyền hành của vua quan và trói buộc người dân. Sau khi Nguyễn Văn Thành biên soạn xong và trình duyệt, vua Gia Long liền sai khắc thành bản in để ban hành trong cả nước. Khi bắt đầu phát ra "vụ án bài thơ giết người", nghĩa là vụ án Nguyễn Văn Thuyên, con trai ông Nguyễn Văn Thành, thì cũng là lúc luật vừa được ban hành. Như vậy, ông Thành làm ra luật thì người phạm vào khoản yêu thư, yêu ngôn phải chết đầu tiên, lại chính là con trai ông. Triều đình đã căn cứ ngay vào khoản đó mà khép Thuyên vào tội chết. Do vậy người đương thời lấy thuyết nhà Phật soi vào vụ án này nói rằng ông Nguyễn Văn Thành đã bị "quả báo nhãn tiền"!. Theo luật pháp ngày nay, thì cha con ông Nguyễn Văn Thành không phải chịu tội chết chỉ vì là tác giả của bài thơ đó được. Bài thơ không thể coi là bằng chứng của một vụ án. Theo Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì chứng cứ trong một vụ án phải là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án; Chứng cứ được xác định bằng: a) Vật chứng... Như vậy, bài thơ nói trên không thể xem là một vật chứng để buộc tội cha con ông Thành. Đối với Trương Hiệu, là người đã giả mạo bài thơ và tố giác để hãm hại cha con ông Nguyễn Văn Thành, theo pháp luật ngày nay sẽ bị xử lý về tội vu khống theo Điều 122 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Vì vu cáo cho người khác, khiến người ta phải rơi vào chỗ chết, Trương Hiệu sẽ phải nhận mức án cao nhất là tới 7 năm tù. | Tường Linh |