| Luật nay: Không thể kết tội người chết Đầu năm 1841, vua Minh Mạng từ trần. Hoàng tử trưởng lên kế nghiệp, tức vua Thiệu Trị (1841-1847). Nhân dịp lễ đăng quang, vua Thiệu Trị ra lệnh đại xá; người trong nhà Lê Văn Duyệt đều được tha. Việc cứu xét lại bản án Lê Văn Duyệt bắt đầu từ khi vua Tự Đức (1847-1883) lên nối ngôi, xuống chiếu xóa tội cho Lê Văn Duyệt và cho truy tìm cháu chắt của ông để phục chức. Dù vua Tự Đức đã sửa chữa những sai lầm trong vụ án Lê Văn Duyệt nhưng bản án này đã để lại một ấn tượng không phai trong lịch sử nhà Nguyễn. Ai cũng biết, kể cả vua Gia Long và vua Minh Mạng, Lê Văn Duyệt rất có công và trung thành với gia tộc Nguyễn Phúc. ông còn là một vị quan trực tính và thanh liêm, sau khi từ trần chẳng có tài sản là bao. 6 điều triều đình quy tội bội nghịch đối với Lê Văn Duyệt đều có tính khiên cưỡng, xuyên tạc vụ việc để quy đến mục đích cuối cùng của triều đình là trả thù Lê Văn Duyệt sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi. Về điều thứ nhất và thứ nhì, theo chính sử, Miến Điện vốn hiềm khích với Xiêm La (Thái Lan) nên hai lần muốn thông sứ với nước ta từ thời vua Gia Long. Năm 1823, Lê Văn Duyệt sai Phan Đạt cùng Nguyễn Văn Độ đem thuyền ra nước ngoài tìm mua vũ khí của người Anh, vì lúc đó người Anh đã đến các nước Đông Nam á. Chẳng may bị bão, thuyền của Đạt và Độ giạt vào Miến Điện. Miến Điện cho đưa nhóm Đạt và Độ về nước, đồng thời gửi thư xin liên lạc ngoại giao với nước ta và xin nước ta cắt đứt việc giao thiệp với Xiêm La. Lê Văn Duyệt cho dịch thư và tâu về triều đình Huế. Triều đình từ chối việc này, ra lệnh hậu thưởng sứ giả rồi cho về. Lê Văn Duyệt thi hành đúng lệnh của triều đình, vậy không thể dựa vào sự kiện Miến Điện xin thông sứ để kết tội ông. Về điều thứ ba, thứ tư, và thứ năm, một viên đại quan trọng trấn ở xa triều đình biết phải làm gì và chọn lựa người nào trong từng công việc, lại công khai đưa ý kiến ra trước triều đình chứ không ngấm ngầm tự ý hành động, là chuyện bình thường, không có gì đáng chê trách. Một vị đại quan ở ngoài lo việc phát triển hải thuyền rất đáng khuyến khích. Giấy có ấn triện nhà vua đóng sẵn do triều đình cấp, chứ Lê Văn Duyệt không tự tiện làm khuôn ấn riêng. Việc quy kết Lê Văn Duyệt dựng đảng với Lê Chất hoàn toàn có tính vu cáo, vì Lê Văn Duyệt và Lê Chất là hai chiến hữu thân thiết từ thời Nguyễn Phúc ánh chưa lên ngôi. Công khai xin vua đặc cách gia ân tăng tuổi thọ cho một người bạn vào sinh ra tử, chẳng phải là một tội lỗi gì để bị kết án xử trảm. Chuyện bốn câu thơ tiên giáng, nếu quả thật có tang chứng như vụ Nguyễn Văn Thuyên, Nguyễn Văn Thành thì chắc chắn không đợi đến khi Lê Văn Duyệt qua đời mới bị kết án, và cũng không đợi các quan đề nghị, mà chính vua Minh Mạng sẽ trực tiếp giải quyết ngay, vì nhà vua vốn tính đa nghi, rất sợ ai đụng chạm đến ngôi báu của mình. Minh Mạng vốn không thích tính cứng cỏi của Lê Văn Duyệt, sợ ông ngả về theo nhóm hậu thuẫn con của hoàng tử Cảnh. Có lẽ vì sự lo ngại âm thầm này mà khi vừa lên ngôi, vua Minh Mạng liền đưa Lê Văn Duyệt đi trấn nhậm Gia Định thành, vùng xa kinh đô, cho đến khi Lê Văn Duyệt từ trần, chỉ thỉnh thoảng cho phép về chầu. Phải chăng cũng vì sự lo ngại này mà năm Giáp Thân (1824), để cắt đứt hẳn sự quan hệ giữa Lê Văn Duyệt và phe nhóm hoàng tử Cảnh, nhân dịp Lê Văn Duyệt về triều, nhà vua đã giao cho ông dìm chết vợ của hoàng tử Cảnh, sau khi có lời vu cáo rằng bà đã dâm loạn với con trai của bà. Có thể nhà vua không muốn đụng chạm đến Lê Văn Duyệt hoặc có thể nhà vua biết Lê Văn Duyệt sắp chết nên đợi thời cơ chuyển đổi êm thắm hơn. Các điều này chứng tỏ vua Minh Mạng rất cần uy tín của Lê Văn Duyệt trong việc cai trị, nhất là trong việc ổn định tình hình Nam Kỳ cũng như trong việc giao thiệp với Chân Lạp và Xiêm La (Thái Lan), nhưng cũng muốn Lê Văn Duyệt tránh xa triều đình để khỏi hậu họa. Vì rất cần Lê Văn Duyệt, nên khi ông còn sống, vua Minh Mạng luôn luôn mềm mỏng và khuyến dụ Lê Văn Duyệt. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, nhà vua liền nhân cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, cho đình thần kết tội Lê Văn Duyệt, nhằm giải tỏa những bực dọc khó chịu của ông đối với tính cứng cỏi của Lê Văn Duyệt, và nhất là mối lo ngại phải đề phòng Lê Văn Duyệt mà bấy lâu nay ông "nhẫn nhịn". Hơn nữa, do Lê Văn Duyệt chơi rất thân với người phương Tây, do vậy vua Minh Mạng xử án Lê Văn Duyệt nhằm cảnh cáo những quan viên nào tỏ ý muốn giao thiệp với người châu Âu. Để tránh tai tiếng, nhà vua đã thi hành một biện pháp rất "hào hiệp" là gửi bản án kết tội Lê Văn Duyệt xuống hỏi ý kiến các quan, kể cả các quan ở địa phương. Việc này rất hiếm thấy dưới thời quân chủ, nhất là quân chủ độc tôn cứng rắn như thời Minh Mạng. Có lẽ nhà vua muốn tránh tiếng khi lên án cố mạng đại thần Lê Văn Duyệt, nhưng ngược lại chứng tỏ uy tín rất lớn của Lê Văn Duyệt khiến nhà vua phải lo ngại phản ứng của các địa phương. Dĩ nhiên đa số các quan đã a dua với nhà vua kết án Lê Văn Duyệt. Đó là chưa kể sự ganh ghét, đố kỵ cũng như tỵ hiềm cá nhân của các quan đối với Lê Văn Duyệt khi ông còn sống. Vụ án Lê Văn Duyệt ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của dân chúng miền Nam. Đây vốn là đất hưng quốc của nhà Nguyễn, là nơi sản sinh nhiều anh hùng trung hưng, trong đó có Lê Văn Duyệt. Khi còn sống, ông được dân chúng sùng kính. Tuy cứng rắn, nhưng sự cai trị của ông dựa trên pháp luật phân minh. Một đại công thần của nhà Nguyễn lại bị đối xử một cách tàn bạo sau khi từ trần như vậy, đã gây thương tổn rất nhiều đến tâm tình của dân chúng. Lòng ngưỡng mộ lớn lao của dân chúng đối với Lê Văn Duyệt là câu trả lời rõ nét nhất về vụ án năm 1835. Theo luật pháp ngày nay, người đã chết như Lê Văn Duyệt sẽ không bị kết án. Ngay cả khi ông còn sống thì việc quy kết tội trạng cho ông cũng phải xem xét một cách thận trọng, khách quan. Việc vua Minh Mạng cho san phẳng mộ phần của Lê Văn Duyệt, nếu chiếu theo luật nay, vua Minh Mạng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt" theo quy định tại Điều 246 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. |