Họ Nguyễn Đức từ xưa tới nay gia tộc và mọi người quan tâm đều xác định họ có 18 vị quận công, nhưng sau hội thảo khoa học “Truyền thống võ lược tỉnh Bắc Ninh và công tác giáo dục lịch sử trong xã hội đương đại” năm 2015 do Hội khoa học lịch sử tỉnh Bắc Ninh chủ trì, phối hợp với gia tộc Nguyễn Đức tổ chức, các nhà khoa học và gia tộc đã xác định - gia tộc Nguyễn Đức có tới 22 vị quận công.
Họ Nguyễn Đức từ xưa tới nay gia tộc và mọi người quan tâm đều xác định họ có 18 vị quận công, nhưng sau hội thảo khoa học “Truyền thống võ lược tỉnh Bắc Ninh và công tác giáo dục lịch sử trong xã hội đương đại” năm 2015 do Hội khoa học lịch sử tỉnh Bắc Ninh chủ trì, phối hợp với gia tộc Nguyễn Đức tổ chức, các nhà khoa học và gia tộc đã xác định - gia tộc Nguyễn Đức có tới 22 vị quận công.

Đại Trung Miếu thờ 7 vị quận công chi Ất họ Nguyễn Đức.
Họ Nguyễn Đức là gia tộc lớn ở Bắc Ninh - Kinh Bắc, gốc ở làng Quế Ổ, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ, sau phát triển, định cư ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh Bắc Ninh. Gia tộc tinh trung kế nghiệp, võ lược truyền gia - có tới 22 vị quận công, 02 vị Tạo sỹ, 05 vị được ban hôn lấy quận chúa, 03 vị được trung phong tước đại vương, 76 vị tước hầu … Thời Lê Trung Hưng được dự vào hàng danh gia vọng tộc, sách “Lê Quý kỷ sự” ca ngợi: họ Nguyễn Đức là một gia tộc lớn và mạnh nhất ở Kinh Bắc.
Hệ thống di tích thờ các vị quận công ở tỉnh Bắc Ninh và một vài tỉnh khác có gần 10 di tích, trong đó ở tỉnh Bắc Ninh có hai di tích tiêu biểu đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là:
+ Di tích lăng và nhà thờ 18 vị quận công ở Quế Ổ
+ Di tích miếu Đại Trung ở Dũng Quyết.
1.Lăng và nhà thờ 18 quận công họ Nguyễn Đức
Khu di tích lăng bia:
Lăng bia của họ Nguyễn Đức từ khi khởi dựng đến khi xếp hạng di tích chưa mai táng hoặc thờ ai, cho nên gia tộc vẫn gọi là “Lăng bia”, vì ở đó mới xây dựng bước đầu (chưa hoàn thành), chỉ có một tấm bia đá cỡ lớn. Phía trước bia này là cặp ngựa đá và cặp voi đá (tư thế đứng chầu), nhưng mới tập kết về chưa dựng đặt đúng vị trí cố định. Do vậy ở đây cũng vẫn chưa mai táng hay thờ ai, chỉ biết là tấm bia đá cỡ lớn có khắc một dòng chữ Hán ghi tên và quan chức của Quế quận công Nguyễn Đức Uyên. (Tựa như bia bài vị được khắc khi nhân vật trong bài vị vẫn còn sống - LVN).

Khu lăng bia họ Nguyễn Đức ở xã Chi Lăng, huyện Quế Võ.
Theo tư liệu gia phả của dòng họ thì tấm bia này được dựng vào năm 1708, cùng với năm Quế quận công cho đắp đê đá ở hai xã Dương Am, Ngãi Am, huyện Vĩnh Lại, nay thuộc xã Trấn Dương, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Gia phả chép như sau: “Ông lại truy ân cha mình mà cho dựng 2 ngôi miếu, một ở xã Quế Ổ, một ở xã Dũng Quyết. Trước miếu đều có đầy đủ một đôi voi đá và một đôi ngựa đá, con cháu sau này đời đời thờ phụng. Ông lại lập một tòa bia đá tại bản hương, trước bia là một đôi voi đá và một đôi ngựa đá, dân ở đây vẫn thường gọi là xứ Non Bia. Bốn phía cho trồng hơn trăm cây thông và hơn 10 cây đa tạo ra một ngôi linh từ với không gian đầy vẻ thâm trầm, thanh u. Vào năm Bính Ngọ, trong nước có biến, bị quân phương Nam tàn phá, chỉ còn có 4 cây thông, duy voi đá, ngựa đá thì vẫn còn y nguyên”.
Bia hiện đặt tại ngôi miếu do chính Quế quận công Nguyễn Đức Uyên xây dựng để truy ân tiên tổ mình. Đây là một tòa bia khá đồ sộ, kết cấu bia gồm 2 phần: đế bia và thân bia. Đế bia có kích thước: chiều dài » 250cm; chiều rộng »150 cm; chiều cao » 100 cm, được tạo tác bằng một khối đá lớn, giật cấp thành 2 cấp, xung quanh thân đế bia được chạm nổi họa tiết mây cụm. Thân bia được tạo tác bằng một phiến đá lớn, cùng chất đá với đế bia, phần thân bia có kích thước: chiều rộng » 90 cm; chiều cao » 170 cm; chiều dày » 80 cm. Bố cục trang trí thân bia được chia làm 2 phần: phần thứ nhất là mặt sau bia và 2 bên hồi trái, phải; phần thứ hai là phần mặt trước của bia. Phần mặt sau bia và 2 bên hồi trái, phải vẫn sử dụng họa tiết mây cụm giống như phần đế bia tạo nên một thể thống nhất, hài hòa. Phần mặt trước bia được chạm khắc rất công phu, tỉ mỉ. Trán bia được chạm nổi họa tiết rồng, mặt trời, đao lửa theo chủ đề “lưỡng long chầu nhật”, nét chạm khỏe khoắn toát ra được vẻ uy nghi, dữ tợn của rồng đang vần vũ trong những đám mây, hướng về mặt trời đang rực lửa, đây là phong cách điêu khắc quen thuộc của thời Lê Trung Hưng. Chạy dọc hai đường diềm bia là hình ảnh rồng đang ẩn mình, thỏa chí trong mây mù một cách hết sức uyển chuyển và sống động. Đáng chú ý ở diềm bia phía dưới được chạm hình tượng một đôi long mã, mình ngựa có vẩy rồng, đầu rồng với tư thế hùng dũng, uy nghi đang tiến về phía trước. Phần chính giữa lòng bia là dòng chữ Hán gồm tất cả 35 chữ được viết theo lối viết bài vị đan xít vào nhau, nét chữ đục sâu và sắc nét, nội dung như sau: “Phụng sai Đề lĩnh tứ thành quân vụ sự, kiêm Lạng Sơn, Hải Dương, Yên Quảng đẳng xứ trấn thủ quan, Hậu Nội cơ cai quan Tham đốc, Quế quận công Nguyễn Đức Uyên bi”. Niên đại dựng bia được ghi ở hồi bia bên trái: “Mậu Tý niên trọng đông tiết cốc nhật tạo” (bia dựng vào ngày đẹp tháng trọng đông (tháng 11) năm Mậu Tý -1708). Ngoài giá trị về mặt nội dung văn bia cung cấp các thông tin về chức tước và thời gian dựng bia, qua đó kết hợp với tư liệu gia phả của dòng họ có thể biết được thời điểm xây dựng ngôi miếu này và ngôi miếu tại thôn Dũng Quyết thì tấm bia còn giá trị cao khi nghiên cứu về nét độc đáo của nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê Trung Hưng.
Về phương diện mỹ thuật thì tấm bia đá này không dừng lại là một tấm bia đơn thuần, qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân xưa, nó xứng đáng được coi là một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê, hậu thế phải ngưỡng vọng chiêm bái.
Sự bài trí các hạng mục công trình, hiện vật trong lăng nhìn từ cổng trở vào: Một đôi ngựa đá, đến đôi voi đá - vị trí đăng đối nhau qua đường thần đạo chạy vào ban thờ và bia đá. Ngựa đá được thể hiện ở tư thế đứng trên bệ, có đầy đủ yên cương, chuông nhạc, miệng đóng hàm thiếc. Trên thân ngựa phủ một vạt vải, có trang trí những diềm hoa nhỏ, lớp trên là bàn đạp. Các khoảng trống từ bụng xuống bệ đứng vẫn liền trong một phiến đá, thể hiện rõ kỹ thuật chạm nổi kỹ lưỡng mềm mại.
Nhà thờ 18 quận công họ Nguyễn Đức
Tên gọi di tích theo chức năng thờ phụng của nhà thờ đại tôn Nguyễn Đức. Khi xếp hạng thờ 18 quận công, sau hội thảo số quận công của cả gia tộc là 22 vị.
Từ khi khởi dựng đến nay, nhà thờ vẫn ở trên đất cũ nền xưa, giữa khu dân cư thôn Quế Ổ, xã Chi Lăng, huyện Quế Võ. Khu nhà thờ gồm 2 công trình: Tiền tế và hậu đường, tạo thành hình chữ Nhị (=).
Hậu đường xây dựng khôi phục năm 1957 gồm 3 gian, chiều dài 6,8 m x rộng 4,8 m, cao 4,7 m. Cấu trúc kiểu kẻ truyền con chồng đơn giản. Các hiện vật có 1 bức đại tự “Môn lỡ đỉnh chung”.
Cách nhà hậu đường 3m là nhà tiền tế xây dựng năm 1990, chiều dài 9,8m x rộng 5,5m, cao 5,2m; kết cấu kiến trúc kiểu thượng tam, hạ tứ quá giang gác tường. Phía trước là 3 cửa vòm cuốn gạch, phía sau là cửa bức bàn. Trên bụng câu đầu + nóc ghi: “Nhị phái giáp ất tạo”; “Quí thu nguyệt viên thành” nghĩa là (hai chi giáp ất làm vào tháng 9 năm 1990).
Năm 2015-2016 gia tộc tiến hành đại trùng tu tôn tạo di tích này.

Nhà thờ 18 vị quận công họ Nguyễn Đức ở xã Chi Lăng, huyện Quế Võ.
2.Miếu Đại Trung- giá trị lịch sử văn hóa.
Miếu nằm ở phía Tây Bắc làng Guột (Dũng Quyết), xã Việt Hùng, huyện Quế Võ. Toàn bộ khu miếu gồm 3 tòa:
- Tòa tiền đường (xây dựng về sau) có 5 gian, kiến trúc gỗ, gạch, ngói.
- Tòa trung đường và hậu cung: Hai tòa này xây gạch cuốn vòm, có kích thước 6,9m x 9,7m; tường dày 1,3m. Bên trong đặt bài vị, đồ thờ bằng đá, bên ngoài sân trước tiền đường có các thú đá (voi, ngựa, chó) đặc biệt là chiếc thống đá (ít nơi có được).
Nguyên do việc xây dựng khu miếu này xuất phát từ tinh thần, khí chất đại trung, đại nghĩa của Ân quận công, tổ đời thứ 4 của chi ất họ Nguyễn Đức.
Về việc xây dựng Miếu Đại Trung, gia phả họ Nguyễn Đức chép:
“Quế quận công lại truy ân tiên tổ bố mẹ mà lập hai ngôi miếu đền. Một ngôi ở làng Quế Ổ, xã Chi Lăng đến nay vẫn lưu truyền gọi là Miếu Đông. Một ngôi ở xã Dũng Quyết để quan khâm mệnh đến tế và con cháu quanh năm thờ tự các vị tiền nhân”.
Miếu Đại trung là nơi thờ phụng các vị võ tướng kiệt xuất thuộc chi ất tại thôn Dũng Quyết, huyện Quế Võ của dòng họ Nguyễn Đức, với 6 vị quận công.
Về thân thế, sự nghiệp cùng nhiều chiến công hiển hách của các vị quận công đã được ghi chép trong gia phả dòng họ Nguyễn Đức và trong nhiều sử sách, từ “Đại Việt sử ký toàn thư” đến “Lê Quý kỷ sự” cùng nhiều sử sách khác đã ghi chép.
Miếu Đại Trung cũng được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VH -TT- DL) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, quyết định số 138/VH-QĐ ngày 7 tháng 3 năm 1992.
Miếu Đại Trung là một trong những di tích tiêu biểu và độc đáo có một không hai trong thời kỳ lịch sử trung đại và cho đến tận ngày nay. Mặc dù đã trải qua mấy trăm năm biến động của lịch sử dân tộc cùng sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng công trình kiến trúc vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn. Giá trị kiến trúc lịch sử - văn hóa của di tích là tính nguyên gốc được khởi dựng năm Canh Tý (1660) hoàn thành vào năm 1708 (thời chúa Trịnh Cương).
* Về kiến trúc: Di tích Miếu Đại Trung có kết cấu chữ đinh (J) gồm 5 gian tiền tế và phần hậu cung. Phần hậu cung có kiến trúc đặc biệt thể hiện rõ tình hình kinh tế và văn hóa xã hội thế kỷ XVII - XVIII, với mái vòm dày 0,7 m, tường dày 1,2m - 1,35m. Vật liệu chính là gạch, vôi, mật mía, cát rất vững chắc. Đặc biệt, trong hậu cung với cây hương đá 8 mặt, chân đế là một đài sen, biểu tượng sự tỏa ngát hương thơm đến muôn đời con cháu mai sau, cùng sự bền vững trường tồn của dân tộc Đại Việt. Phía ngoài sân, trước mặt tiền đường là đôi voi đá và đôi ngựa đá ở tư thế đối diện nhau. Phía bên trái cũng có một cây hương đá và 4 con chó đá, phía bên phải một thống đá. Tất cả các hiện vật đều có niên đại thời hậu Lê và thời Lê Trung Hưng và đều được bài trí trong tổng thể khu di tích một cách hài hòa, giàu tính văn hóa và nghệ thuật, nhưng vẫn giữ được nét tôn nghiêm, cổ kính. Riêng 5 gian nhà tiền tế kiểu hồi bít đốc với 4 hàng chân cột được dòng họ Nguyễn Đức xây dựng vào thế kỷ 20.
Có thể nói: Miếu Đại Trung là một di sản vô giá về giá trị lịch sử - văn hóa. Sự đặc biệt thể hiện trên những hiện vật thể khối. Tất cả đều được chạm khắc tinh xảo, các họa tiết rõ nét, không rườm rà, nhưng lại rất sống động, rất tinh tế và bền vững. Đó chính là văn hóa vật chất và tinh thần phản ánh về tinh thần võ lược có một không hai của các danh tướng dòng họ Nguyễn Đức, một công trình văn hóa, lịch sử, nghệ thuật mà tổ tiên dòng họ Nguyễn Đức đã tạo dựng từ mấy trăm năm về trước. Các hiện vật bằng đá, hình khối, hình trụ đã đạt đến trình độ cao về thẩm mỹ, nghệ thuật cũng như thể hiện sức mạnh, sự oai phong lẫm liệt và tính bền vững trường tồn. Đồng thời cũng chứng tỏ một trình độ cao về thiết kế qui hoạch và tổ chức xây dựng của ông cha ta.
Miếu Đại Trung còn lưu giữ các tư liệu chữ viết như gia phả, các hoành phi, câu đối đều là những tư liệu có giá trị đặc biệt cho việc nghiên cứu các giai đoạn lịch sử thời Lê Trung Hưng và về các nhân vật lịch sử, các danh tướng của dòng họ Nguyễn Đức.
Các cổ vật cấu thành giá trị của di tích Lăng và Nhà thờ các vị quận công họ Nguyễn Đức ở Quế Ổ và Miếu Đại Trung ở Dũng Quyết, chủ yếu chất liệu bằng đá, cho nên còn được bảo tồn khá nguyên gốc đến ngày nay.
Khu lăng bia và Miếu Đại Trung - là hai di tích tiêu biểu nhất (tính chất giá trị nguyên gốc cao) phản ánh về một gia tộc có truyền thống võ lược vẻ vang hàng đầu của Bắc Ninh - Kinh Bắc và Việt Nam.
Lê Viết Nga (Hội sử học Bắc Ninh)