Chủ Nhật, 14/04/2024
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

05/09/2008 00:52 2 4294
Điểm: 5/5 (1 đánh giá)
Nhân dịp xuân Mậu Tý, Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu một số vua chúa Việt Nam tuổi Tý.
Nhân dịp xuân Mậu Tý, Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu một số vua chúa Việt Nam tuổi Tý.

Trần Hoảng

(Canh Tý, 1240- 1290)

Vua thứ hai nhà Trần, miếu hiệu Thánh Tông, con trưởng Thái Tông. Sinh ngày 13/10/1240 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.

Ông ở ngôi 21 năm, truyền ngôi cho con là Nhân Tông (Trần Khâm) rồi làm Thái thượng hoàng. Khi quân Nguyên- Mông xâm lược nước ta lần II và III (1258- 1288) ông cùng vua con lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi. Sau đó, ông lui về Bắc cung tu Phật, chuyên tâm soạn kinh sách Phật.

Năm Canh Dần 1290 ông mất hưởng dương 50 tuổi. Còn để lại tác phẩm: Di hậu lục, Cơ cừu lục; Thiền tông liễu ngô ca và 6 bài thơ chép ở Đại Việt sử ký toàn thưViệt âm thi tập.

Trần Quốc Tảng

(Nhâm Tý, 1252- 1313)

Tôn thất nhà Trần, tước Hưng Ninh vương, con thứ tư của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

Ông có ra làm quan ít lâu rồi chán công dnah, lui về ở ẩn nơi phong ấp là Tịnh Bang (thuộc xã Yên Quảng, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương). Ông say mê nghiên cứu thiền học, có tiếng trong giới tu sĩ. Do đấy, trong văn học và tôn giáo ghi lầm ông với Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung. Đúng ra, ông là cháu gọi Trần Tung bằng chú. Để phân biệt, tước phong của ông là Hưng Ninh vương, còn tước phong của Trần Tung là Ninh vương. Sở dĩ có sự nhầm lẫn, vì hai người đều có phong âpá ở Tịnh Bang, tước hơi giống nhau, và tuổi thọ cũng như nhau.

Năm Quý Tỵ 1313 ông mất, thọ 61 tuổi. Tác phẩm của ông gồm: Phóng cuồng ca (Có thuyết cho rằng Phóng cuồng ca là của Trần Tung).

Trần Thuyên

(Bính Tý, 1276- 1320)

Vua thứ tư nhà Trần, miếu hiệu Anh Tông, con trưởng Trần Nhân Tông (Trần Khâm). Sinh ngày 25/20/1276, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Ông lên ngôi ngày 16/4/1293 lúc 17 tuổi. Khi làm vua ông đặc biệt ưu đãi các cựu thần có công trong cuộc đánh đuổi quân Nguyên Mông, và trân trọng sử dụng các bậc nhân tài. Việc chính trị, văn hóa, quân sự đời ông đều mở mang, tiến triển tốt đẹp. Ông ở ngôi 21 năm (1293- 1314) theo gương các vua trước mà truyền ngôi cho con, rồi về chăm việc tu Phật, sáng tác thơ văn.

Ngày 21/4/1320 ông mất, hưởng dương 41 tuổi. Có soạn tập Thủy vân tùy bút ngoại tập và bài Thạch dược châm, Pháp sự tân văn, Hiệu đính công văn cách thức, nhưng ông đốt bỏ không lưu truyền. Nay chỉ còn 12 bài thơ ghi chép trong Việt âm thi tập.

Trần Mạnh

(Canh Tý, 1300- 1357)

Vua thứ 5 nhà Trần, miếu hiệu Minh Tông, con Trần Anh Tông. Sinh ngày 4/9/1300, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định

Năm Giáp dần 1314 ông lên ngôi, triều đại ông cũng tốt đẹp về văn hóa, chính trị, tôn giáo. Về nông nghiệp cũng phát triển thuận lợi, qua chính sách kêu gọi các vương hầu trả lại ruộng tư hữu đã lấn chiếm, giúp nông dân có ruộng cày.

Ông ở ngôi 15 năm (1314- 1329) sau nhường ngôi cho con, làm Thái Thượng hoàng như các vua trước từng làm.

Ngày 10/3/1357 ông mất, hưởng dương 57 tuổi. Có soạn tập thơ Minh Tông thi tập nay đã mất, chỉ còn sót 25 bài thơ ghi chép ở Toàn Việt thi lục.

Trần Kính

(Bính Tý, 1336- 1377)

Vua thứ 9 nhà Trần, miếu hiệu Duệ Tông, hiệu năm là Long Khánh. Ông là con thứ 11 của Trần Minh Tông, em Trần Nghệ Tông.

Khi vua Nghệ Tông tránh loạn Dương Nhật Lễ, ông có công bình định xứ sở nên được Nghệ Tông truyền ngôi cho, nhưng ông chỉ ở ngôi được 4 năm (1374- 1377).

Năm Đinh Tỵ 1377, ông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, gặp lúc biển động chiến thuyền gặp nguy hiểm. Quý phi yêu dấu của ông là Nguyễn Bích Châu tin theo sự mê hoặc tế thần gieo mình xuống biển để cứu nạn. Sau đó ông cũng chết tại trận, hưởng dương 41 tuổi.

Ông có tài văn thơ, tác giả một số thơ văn, nhưng phần lớn bị thất lạc. Bài văn tế Nguyễn Bích Châu có nghệ thuật thơ, nay còn truyền tụng.

Trần Cảo

(Bính Tý, 1336- 1369)

Vua nhà Trần, còn có tên là Hạo, con thứ 10 vua Minh Tông và Hoàng hậu Hiến Từ, miếu hiệu Dụ Tông. Quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định.

Nguyên vua Hiến Tông không có con và chỉ ở ngôi làm vì, quyền chính đều ở trong tay Minh Tông (Thái thượng hoàng). Sau khi Hiến Tông mất, Thái thượng hoàng Trần Mạnh lập ông lên làm vua, với các hiệu năm là Thiệu Phong (1341- 1357) và Đại Trị (1358- 1369).

Khi Thái thượng hoàng Minh Tông mất, công việc chính trị, quân sự trong triều bắt đầu đổ nát. Tính ông lại ham rượu chè, trụy lạc, chỉ lo xây cung điện vui chơi đàn hát, cờ bạc. Việc nước đi vào đường lụn bại, mọi việc trong triều đều do Dương Nhật Lễ quyết đoán.

Ông mất năm 1369, làm vua 28 năm (1341- 1369), hưởng dương 34 tuổi. Tác phẩm của ông có: Trần triều đại điển và một bài thơ trong Toàn Việt thi lục.

Lê Duy Tân

(Mậu Tý, 1588- 1619)

Vua nhà Hậu Lê, miếu hiệu Kính tông Huệ hoàng đế, con thứ của Lê Thế Tông.

Khi vua cha mất, đáng lý anh ông là thái tử Duy Trì phải được lên nối ngôi, nhưng Bình An vương Trịnh Tùng lại phế Duy Trì đi, đưa ông lên ngôi vào ngày 27- 8 năm Kỷ Hợi 1599, lúc ông mới 11 tuổi.

Ông là vua đầu tiên chứng kiến cuộc tranh hùng giữa hai họ Trịnh- Nguyễn, và bị áp lực của Bình An vương Trịnh Tùng rất nặng.

Năm Kỷ Tỵ 1619, ngày 12- 5 ông bị Trịnh Tùng ra lệnh xử giảo (thắt cổ chết), hưởng dương 31 tuổi, táng tại Bố Vệ lăng, làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Ở ngôi 20 năm, đổi hiệu hai lần:

- Năm Thuận Đức: Canh Tý 1600 đến tháng 11 (1 năm)

- Hoàng Định: 20 năm: tháng 11 Canh Tý 1600- tháng 5 Kỷ Tỵ 1619.

Nguyễn Phúc Trăn

(Mậu Tý 1648- 1691)

Chúa thứ 5 thời Nguyễn sáng nghiệp, con thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Tân.

Năm Đinh Mão 1687 Nguyễn Phúc Tân mất, ông kế vị. Sử chép ông là người khoan hòa, yêu kẻ sĩ, khi lên ngôi thì nhẹ hình phạt và xâu thế, nên nhân dân đương thời gọi ông là Nghĩa vương hay chúa Ngãi.

Tháng 7 năm Đinh Mão 1687, ông cho dời phủ chúa sang làng Phú Xuân (Huế) lấy hòn núi phía trước làm án (tức núi Ngự Bình) đắp trường thành, xây cung điện thành một nơi danh thắng, còn phủ cũ (ở Kim Long) thì dùng làm miếu thờ Thái Tông và các tiên chúa.

Năm Mậu Thìn 1688, quân Chân Lạp sang cướp phá miền Nam và không triều cống, ông cho quân sĩ sang đánh, vua Chân Lạp thua phải triều cống như xưa.

Năm Kỷ Tỵ 1689, cho mở các khoa thi Chính đồ, Hoa văn nhằm kén chọn nhân tài cho đất nước. Năm Tân Mùi 1691, ông bệnh nặng qua đời, làm chúa 4 năm, hưởng dương 43 tuổi. Sau khi mất được triều đình dâng thụy hiệu là Đại Nguyếnúy tổng quốc chính Hoằng nghĩa vương, truy tôn là Anh Tông Hiếu nghĩa hoàng đế, an táng ở núi Kim Ngọc (xã Định Môn, huyện Hương Trà), truy tôn vợ là Từ Tiết tĩnh thục Hiến phi.

Nguyễn Phúc Trú

(Bính Tý, 1696- 1738)

Chúa thứ 7 thời Nguyễn sáng nghiệp, ông là con trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chu. Khi trưởng thành có tài văn võ, được trao chức Cai Cơ, tước Đĩnh Thịnh hầu.

Năm Nhâm Tý 1725 Nguyễn Phúc Chu mất, ông đúng 29 tuổi được nối ngôi, các quan tôn là Thái phó, Đĩnh Quốc Công, hiệu là Vân Tuyền đạo nhân, đương thời gọi là Minh vương.

Năm Nhâm Tý 1732, ông đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ tức Vĩnh Long, đưa dân đến lập nghiệp thành một vùng trù phú của đất nước.

Năm Ất Mão 1735, Tổng binh Hà Tiên Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tích kế tục sự nghiệp cha được ông phong làm Tổng binh Đại đô đốc trấn Hà Tiên trông coi biên thùy phía Tây Nam tổ quốc.

Năm Nhâm Ngọ, Vĩnh Hữu thứ 4 đời Lê Ý Tông (1738) ông mất, hướng dương 43 tuổi ở ngôi được 13 năm, an táng ở làng Định Môn, tỉnh Thừa Thiên, triều thần dâng thụy hiệu là Đại Đô thống Tổng quốc chính Đĩnh Ninh vương, truy tôn là Túc tông Hiếu Minh hoàng đế.

Trịnh Doanh

(Canh Tý, 1720- 1767)

Chúa thứ bảy đời vua Lê chúa Trịnh, tước Minh Đô vương, con thứ ba của chúa Trịnh Cương, em ruột chúa Trịnh Giang, quê làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Ông có tài văn võ, có tiếng hay thơ. Từ 1736 được cử giữ chức Thái úy, tiết chế quân thủy bộ các xứ, tước An Quốc Công lúc mới 16 tuổi. Đến 1740, được thay anh nối nghiệp chúa. Thời ông cầm quyền, trong nước nhiều biến loạn, ông phải nhọc lòng xếp đặt lại mọi việc, hạn chế bớt việc xây dựng chùa chiền, trả ruộng đất lại cho nông dân, ưu đãi các tướng sĩ để đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nhân dân trong xứ.

Năm Đinh Hợi 1767 ông mất, hưởng dương 47 tuổi. Ngoài một nhà chúa, ông còn là một nhà thơ, ông có soạn tác phẩm Càn nguyên ngự chế thi tập, Minh Đô vương thi tập do con trai là chúa Trịnh Sâm và Thị thư viện Hàn lâm là Phan Lê Phiên biên tập lại và đề tựa. Sách gồm 263 bài thơ, trong đó có 241 bài thơ Nôm, 22 bài thơ chữ Hán.

Nguyễn Phúc Vĩnh San (Duy Tân)
(Canh Tý, 1900-1945)

Là một nhà vua yêu nước, sinh ngày 19-9-1900 con thứ 8 của nhà vua yêu nước Thành Thái. Khi lên ngôi lấy hiệu năm là Duy Tân nên cũng gọi là vua Duy Tân, lúc ông làm vua, phụ trách đại thần là Trương Như Cương (tay chân của Pháp) thường ngầm theo dõi ông. Khi vua cha bị thực dân Pháp đưa đi đày, ông được lên ngôi lúc còn bé. Do gần gũi với các chí sĩ yêu nước, ông dần khẳng định thái độ bất hợp tác với quân cướp nước, bí mật liên lạc với Trần Cao Vân, Thái Phiên. Ông tán thành cuộc khởi nghĩa năm 1916. việc đại nghĩa thất bại, ông bị bắt ngày 6-5-1916, bị đày sang đảo Reuion (Đông Nam Phi Châu).

Trong thế chiến thứ 2 (1936-1945), ông tham gia quân đội đồng minh chống phát xít Đức. Cuối năm 1945 ông từ trần vì một tai nạn máy bay ngày 26-11-1945 tại Bắc Phi, hưởng dương 45 tuổi. Mãi đến ngày 2-4-1987 hài cốt vua Duy Tân mới được đưa từ đảo Reuion về Việt Nam rồi đưa về Huế cải táng bên cạnh vua Thành Thái.

Ban biên tập


(Nguồn: Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, H.1992. Nxb.Văn hóa)

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Chia sẻ:

Bình luận

Hoàng Việt Anh05/06/2013 20:57

Một số vị vua chúa cầm tinh con Chuột trong lịch sử Việt Nam
Còn nữ. Nếu kể đến vương hầu thì phải có thêm Trần Quang Khải. Ông sinh năm Canh Tý 1240

Hoàng Việt Anh05/06/2013 20:55

Một số vị vua chúa cầm tinh con Chuột trong lịch sử Việt Nam
Tại sao không có Lý Phật Mã (Lý Thái Tông) , ông vua sinh năm Canh Tý 1000

Bài nổi bật

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

Khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc Người “đi xa” (Phần 2 và hết)

  • 12/07/2019 08:46
  • 5898

Nền độc lập dân tộc tồn tại không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chúng nổ súng đánh chiếm Nam Bộ sau đó mở rộng ra cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.

Bài viết khác

HỘI NGHỊ BÁO CÁO KẾT QUẢ THÁM SÁT VÀ KHAI QUẬT DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ (TỪ LIÊM, HÀ NỘI)

HỘI NGHỊ BÁO CÁO KẾT QUẢ THÁM SÁT VÀ KHAI QUẬT DI TÍCH MIẾU ĐỒNG CỔ (TỪ LIÊM, HÀ NỘI)

  • 05/09/2008 00:50
  • 1939

Ngày 17 tháng 1 năm 2008, tại UBND xã Minh Khai (Từ Liêm, Hà Nội) Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội và VP. Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tổ chức Hội nghị báo cáo sơ bộ kết quả thám sát và khai quật di tích miếu Đồng Cổ (thôn Nguyên Xá, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội). Đợt nghiên cứu được tiến hành từ cuối tháng 10 năm 2007 trong chương trình nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn TP. Hà Nội, kỷ niệm Thăng Long - Hà Nội 1000 năm tuổi.