Những quan tài treo trên hang đá ở xã Suối Bàng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ nhiều năm nay vẫn là điều bí ẩn đối với các nhà khảo cổ học. Theo người dân nơi đây, những cỗ quan tài có niên đại hàng nghìn năm này như có cánh, nên mới “bay” được lên những hang đá ở trên núi cao chót vót.
Những quan tài treo trên hang đá ở xã Suối Bàng, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La từ nhiều năm nay vẫn là điều bí ẩn đối với các nhà khảo cổ học. Theo người dân nơi đây, những cỗ quan tài có niên đại hàng nghìn năm này như có cánh, nên mới “bay” được lên những hang đá ở trên núi cao chót vót.
Những cỗ quan tài "bay"
Ông Mùi Văn Khương ở bản Khoang Tuống năm nay đã ngoài 70 tuổi được coi là “pho sử” sống của xã Suối Bàng. Những câu chuyện kể của các cụ về những cỗ quan tài bay trong hang đá luôn ám ảnh ông. Ông từng nhiều lần đi săn qua đây, nhưng chưa bao giờ dám vào, vì nơi đó bay ra mùi rất thối. Những “hang ma” nằm rải rác từ bản Nà Lồi, Pưa Ta đến bản Khoang Tuống. Điều lạ là chỗ nào núi đá càng cheo leo, hiểm trở thì càng có nhiều quan tài. Chốn đó rất bí hiểm, người dân thường bảo ai vào đó sẽ bị ma bắt đi. Đời này qua đời khác, người ở khắp các bản không ai dám bén mảng vào khu mộ. Có một vài người liều lĩnh vào hang, khi về đã bị mắc bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân.
Bên bếp lửa bập bùng, ông Khương đưa ánh mắt về phía những đỉnh núi đá cao ngất trời, ngập chìm trong sương đêm kể lại lai lịch của những cỗ quan tài bay. Ngày xưa một chuyện hy hữu đã xảy ra giữa hai dân tộc Thái và dân tộc Xá (người Khơ Mú hiện nay). Người Xá bắn tên rất giỏi đã thách người Thái bắn tên lên vách đá để xác định chủ quyền vùng đất. Nếu mũi tên của bên nào bắn cắm vào vách đá nghĩa là thần núi, thần đất thuận cho ở, còn bên nào thua phải đi khỏi mảnh đất này. Người Xá dùng tên có bịt đồng ở đầu mũi tên nên bắn vào vách đá thì bị nảy ra, còn người Thái lấy sáp ong dính vào đầu mũi tên nên khi bắn vào vách đá, mũi tên đã dính lên vách đá. Từ đó, người Thái được ở lại trên mảnh đất này, còn người Xá phải ra đi.
Giữ đúng lời giao đấu, người Xá sẽ phải chuyển đi nơi khác ở. Tuy nhiên, thời gian đầu người Xá chưa tìm được nơi dựng nhà, nên xin tá túc tạm ở vùng đất của người Thái. Do vậy, khi chết người Xá không được chôn cất trên mảnh đất này, họ phải treo các cỗ quan tài lên các hang đá.
Mãi đến những năm 1960, khu mộ này vẫn còn là một bí ẩn. Năm đó có một thầy giáo lên đây dạy học. Nghe người dân đồn thổi và thêu dệt nên nhiều câu chuyện kỳ bí và đầy mê tín. Người thầy đó đã đích thân một mình trèo lên hang đá mang nguyên một chiếc đầu lâu xuống cho bà con xem. Sau mấy ngày thầy vẫn sống. Tuy nhiên, người dân ở Suối Bàng cũng không ai dám bén bảng vào đó.
“Hang ma”
Trưởng bản Khoang Tuống, anh Mùi Văn Khâm đích thân dẫn chúng tôi luồn rừng. Trước khi đi, anh mang theo đèn pin, dao phát, và một số bài thuốc lá của người Mường. Theo trưởng bản, nơi đây rừng thiêng nước độc, vào rừng rất dễ gặp hiểm nguy. Qua con suối Bàng, chúng tôi cứ thế ngược dốc mà đi. Vượt qua những nương ngô xanh mướt là bắt đầu tới rừng già. Những gốc cây to vài người ôm mọc lên sừng sững giữa trời. Càng tiến sâu vào rừng càng nghe rõ tiếng chim kêu, vượn hú, thỉnh thoảng gặp cặp rắn hổ mang chúa đuổi nhau phun phè phè rợn tóc ngáy. Phía dưới tán rừng ong bay vo ve, từng tổ ong treo lơ lửng như giàn mướp sai trĩu quả. Đi được nửa buổi sáng, chúng tôi bắt đầu thở dốc. Vậy mà anh Khâm bảo mới đi được có nửa đường.
Sau cả buổi luồn rừng, chúng tôi mới lên tới hang đá. Anh Khâm vừa thở hổn hển vừa bảo: “Nghĩa địa quan tài bay ở trên vách kia”. Nghe anh Khâm nói vậy tôi không tin lắm, vì vách đá dựng đứng cao khoảng vài chục mét người trèo lên đó đã khó, chứ chưa nói gì đưa những cỗ quan tài nặng trịch bằng gỗ đinh hương lên đó. Anh Khâm trèo lên trước rồi thả dây rừng kéo chúng tôi lên. Tiếng gió rít qua hang đá phát ra những âm thanh ghê rợn. Lúc leo núi mồ hôi còn ướt đẫm, giờ đứng trong hang đá ai cũng cảm thấy rét. Giữa nơi thâm sơn cùng cốc càng khiến những ai lần đầu đặt chân lên đây khiếp đảm.
 |
|
Hang đá rộng và tối om. Qua ánh đèn pin những cỗ quan tài to và dài ken dầy vào vách đá giống như những tổ chim yến. Chúng xếp không theo một trật tự nào, cái ngang, cái dọc. Hình quan tài là một thân cây nguyên được đẽo hai đầu giống hình thuyền, phía trên là lắp đậy. Không dùng một chiếc đinh nào, nhưng đậy rất khít. Để nâng lắp lên phải dùng sức của hai người mới nhấc nổi. Càng tiến sâu vào hang thì quan tài càng nhiều. Sau vài trăm năm bị sương gió bào mòn mà những chiếc quan tài này vẫn chưa bị ảnh hưởng. Anh Khâm bảo: Cách đây vài chục năm chúng còn nguyên vẹn. Nhưng mấy năm vừa rồi những tay buôn đồ cổ đã lên cậy nắp quan tài để lấy đổ nên có những cái bị xô lệch.
Tục táng hang
Cách đây 2 năm, một số cán bộ của Trung tâm nghiên cứu Tiền sử Đông Nam á đã tiến hành khảo sát một số “hang ma”. Trong dãy núi Thạm này, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được hệ thống 5 hang có chứa quan tài. Hiện nay mới chỉ tiến hành khảo sát được ở hang đầu tiên, còn những hang sau đi lại rất khó khăn, nên chưa xác định được hết.
Trong hang khảo sát hiện còn 6 chiếc quan tài, được chia làm 4 loại có hình dáng, kích thước khác nhau nhưng đều được làm từ thân cây gỗ bổ đôi và ở giữa được khoét hình lòng máng để đặt thi hài. Loại quan tài to gồm 2 chiếc là một nửa thân gỗ, được bổ đôi, có đường kính 75cm, chiều dài 290cm. Mỗi đầu có 3 mấu chốt hình mũi thuyền đuôi én dài 37cm. Mấu chốt ở giữa không có lỗ cài then, mà chỉ có lỗ cài then ở hai bên mấu chốt. Hai quan tài này đã bị mở nằm ngay trên mặt đất, hiện vật ở đây còn xương hộp sọ, xương sườn, xương cẳng chân và xương sống. Theo nhân dân địa phương kể lại thì trước đây còn có các đồ vật tuỳ táng như bát, đĩa nhưng đến nay không còn nữa. Có hai chiếc quan tài giống quan tài loại trên về hình dáng, song kích thước nhỏ hơn, chiều dài 277cm, đường kính 60cm, mỗi đầu có hai mấu chốt hình mũi thuyền đuôi én dài 30 cm.
Đây là một hình thức mộ táng cổ độc đáo. Quan tài không chôn mà táng tại hang, quan tài bằng thân cây, được chế tác tinh xảo, biểu hiện qua kỹ thuật khoét lòng và chốt gài quan tài. Những mộ thuyền được phát hiện ở Suối Bàng cũng có hình dáng, kích thước, kỹ thuật khoét lòng giống như mộ thuyền lớn nhất Việt Nam ở Việt Khê (Hải Phòng) và mộ thuyền Châu Can (Hà Tây), song được chế tác tinh xảo hơn qua việc tạo chốt cài quan tài. Hơn nữa, có 3 mấu chốt hình mũi thuyền đuôi én có thể là đặc trưng cho dân cư vùng sông nước. Các mộ thuyền có niên đại ít nhất khoảng 600 năm trước, quan tài được làm bằng loại gỗ Đinh thối, khả năng chính vì mùi khó chịu của gỗ là để tránh không cho thú rừng tìm đến, nhưng một câu hỏi đặt ra: Tại sao người xưa có thể mang được mộ thuyền to treo lên vách đá? Thực tế, mộ thuyền không có gì lạ với người dân địa phương nơi đây, bởi nhiều năm nay người dân luôn giữ gìn không dám động chạm vào quan tài mộ thuyền vì yếu tố tâm linh.
Theo nhận định của TS Nguyễn Văn Việt - Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam á, tất cả những cỗ quan tài được phát hiện tại Suối Bàng có mốc niên đại khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Tuy nhiên, trong thực tế dường như những cỗ quan tài này lại không có mối quan hệ nào tới những hộ đồng bào Mường sinh sống dưới chân núi. Chính ông Mùi Văn Chiến trưởng bản Nà Lồi cũng kể rằng: Từ đời các cụ ông cũng không thấy đả động gì đến việc phải thờ tự hay hương khói gì đối với những cỗ quan tài cổ trên núi đá kia.
Theo báo cáo của xã Suối Bàng, đến nay đã phát hiện thêm 11 điểm có mộ thuyền trong hang mộ, trong đó nhiều mộ thuyền còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, việc bảo vệ những ngôi mộ này vẫn chưa được chính quyền quan tâm. Thực tế là nhiều quan tài đã bị bọn săn tìm cổ vật cậy nắp. Rõ ràng việc bảo vệ những nghĩa địa cổ này đang trở nên cấp thiết.
TUẤN HIẾU