Trên sườn đồi nắng gió vẫn vọng lại tiếng cồng chiêng từ một đám ma của người Êđê. Những thanh niên đang đào huyệt để ngày mai người chết được chôn ở nghĩa trang của làng. Họ đều cười và xua tay khi chúng tôi hỏi về tượng nhà mồ: “Ở đây không còn tượng mồ đâu”
Trên sườn đồi nắng gió vẫn vọng lại tiếng cồng chiêng từ một đám ma của người Êđê. Những thanh niên đang đào huyệt để ngày mai người chết được chôn ở nghĩa trang của làng. Họ đều cười và xua tay khi chúng tôi hỏi về tượng nhà mồ: “Ở đây không còn tượng mồ đâu”
Đồng bào Êđê ở Ea Lâm vẫn tiễn đưa người chết theo phong tục với rượu cần và cồng chiêng, vẫn cúng cơm, vẫn làm lễ bỏ mả. Nhưng tượng mồ thì không còn được đẽo nữa...
Nhà mồ đã bê tông hoá
Chúng tôi đi thêm hơn 20km từ thị trấn Hai Riêng đến Ea Lâm - một xã heo hút vùng xa của huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Ea Lâm sát cạnh DăkLăk. Bà con Êđê, Mnông ở đây cùng huyết thống với bà con Êđê, Mnông các thôn buôn ở tỉnh bên. Ksor Y Đen, một cán bộ xã còn rất trẻ dẫn chúng tôi đi nói vui: “Cái gì ở Tây Nguyên có thì ở Ea Lâm cũng có hết”.
Ksor Y Đen chỉ cho chúng tôi những ngôi nhà mồ của đồng bào Êđê: tường xây bằng gạch, lợp ngói và quét vôi màu xanh. Ở những ngôi mả vừa được bỏ, vẫn còn cái cọc đâm trâu, vẫn còn cái sạp để đồ cúng tế đang bị mưa nắng thời gian huỷ hoại… Nhưng không còn thấy hàng rào tượng xung quanh nhà mồ... Và đây đó, xen lẫn giữa những ngôi mả còn mang chút dáng dấp cổ truyền là những ngôi mộ mới.
Người Tây Nguyên tin rằng khi chết, linh hồn sẽ biến thành ma, cứ lẩn khuất, lưu luyến dương gian. Hàng ngày, người thân phải tới phần mộ của người chết quét dọn, mang đồ ăn cho linh hồn. Thời gian đưa đồ cúng tế này gọi là thời kỳ giữ mả. Chỉ đến khi chủ mả làm lễ bỏ mả, linh hồn mới được siêu thoát, đầu thai qua các kiếp khác để rồi trở lại làm người.
Người Giarai, Êđê, người Bơnar... đều chọn ngày trăng tròn, sáng làm lễ bỏ mả. Khi lễ bỏ mả bắt đầu, ngoài nghĩa địa rộn tiếng cồng, chiêng. Trước ngôi nhà mồ, người ta cắm một cây nêu treo những lá bùa xanh đỏ. Ông thầy cúng hoặc người thân của người đã khuất khấn vái để hồn ma về chung vui. Mọi người đốt lửa, uống rượu cần, mổ trâu, bò, dê, gà... ăn mừng, nhảy múa, ca hát vì đã yên tâm rằng hồn ma giờ đây thực sự yên nghỉ. Đã bao đời nay, những ngày lễ bỏ mả là những ngày hội tưng bừng của buôn làng Tây Nguyên.
Trước đây, việc đầu tiên của người chủ mả khi chuẩn bị bỏ mả là tìm gỗ để dựng cột tượng nhà mồ. Một ngôi nhà mồ dự định bỏ vào tháng 3, thì từ tháng 1 người chủ đã bắt đầu kiếm gỗ đẽo tượng. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, bề thế trước đây của người Giarai, cột tượng thường được làm bằng gỗ cây hương, cây cà chít. Những cây gỗ này có thể giữ độ bền của tượng mồ giữa thiên nhiên mưa nắng đến vài chục năm.
Tượng mồ được đẽo gọt thô sơ bằng những nhát rìu thô ráp mộc mạc, các nét vạch ngang, vạch chéo sơ lược. Với dụng cụ đơn giản là chiếc rìu và cây chà gạc, từ thân gỗ tròn, nghệ nhân chỉ cần phác hoạ một vài chi tiết là bức tượng bỗng trở nên sống động, có hồn bằng những mảng khối được nhấn mạnh.
Sau lễ bỏ mả, người ta không mang đồ cũng tế hàng ngày đến cho ma nữa. Chum, ché và những đồ vật dành cho người chết được đập vỡ với quan niệm rằng đồ vỡ ở trần gian là đồ lành dưới âm phủ. Tượng mồ cũng đi cùng người chết sang thế giới bên kia. Tượng mồ cùng ngôi nhà mồ dầu dãi mưa, nắng, sương gió rồi hoà vào đất, tự về với cát bụi.
Khác với tượng của người Việt, của người Khmer là những bức tượng linh thiêng, đặc biệt trang trọng khi đặt ở nơi thờ cúng, tượng mồ Tây Nguyên ra đời từ thiên nhiên, được đặt trong khung cảnh thiên nhiên, sống với thiên nhiên rồi hoà tan vào thiên nhiên cùng với thời gian. Nhìn hàng rào tượng quanh khu nhà mồ, người ta không có cảm giác sợ hãi mà lại thấy gần gũi với cuộc sống quen thuộc vẫn diễn ra hàng ngày của buôn làng qua những hình tượng độc đáo. Có thể thấy tượng người ôm mặt ở các góc, tượng nam nữ có tính phồn thực, tượng con gái chia cơm lam, tượng người đánh trống, tượng chó cõng khỉ - như hàm ý rằng lễ bỏ mả rất vui, các con vật không chen vào xem được nên chỉ còn cách cõng nhau lên cao mà xem (!)... Nghệ nhân đẽo tượng đã làm tan biến thật tài tình cái cảm giác sợ hãi của người sống với một thế giới cách biệt, đem lại sự gần gũi giữa người sống và người chết bằng thế giới tượng mồ đầy biểu cảm...
Những nỗ lực chưa đủ
Giá trị văn hoá và giá trị lịch sử làm cho tượng mồ từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Nó là di sản văn hoá quý báu không chỉ riêng của Việt Nam, của Đông Nam Á mà là của cả nhân loại. Theo nhiều chuyên gia dân tộc học, tượng mồ còn hứa hẹn nhiều khám phá mới về lịch sử tộc người và văn hoá tộc người.
…Nhưng đã lâu rồi người Êđê, Mnông ở Ea Lâm không làm tượng nhà mồ khi bỏ mả. Gỗ tốt ở rừng hiếm dần, đắt dần nên làm nhà mồ, làm cột tượng bằng gỗ tốn kém lắm… Những ngôi nhà sàn của đồng bào nay cũng ít thấy có cầu thang là một cây gỗ lớn mà cầu thang đã được xây bằng gạch, có đường để dẫn xe máy lên… Đã có nơi, đồng bào dùng gỗ cây pơlang (cây gạo) để thay cho cây cà chít. Loại cây này dễ tìm nhưng độ bền của tượng thì không thể so sánh được với những loại gỗ tốt kia. Người biết làm tượng mồ trong các thôn buôn cũng ít dần. Họ về với tổ tiên rồi mà con cháu họ ít người kịp học để làm được tượng mồ.
Lớp người trẻ như Y Đen bây giờ không biết nhiều về tượng mồ. Cả cái tên cây gỗ thường được người Êđê dùng để đẽo tượng mồ cũng ít ai còn nhớ. Khi được chúng tôi hỏi, Y Đen cười quay sang hỏi người lớn tuổi hơn bằng tiếng dân tộc rồi mới trả lời: “Cây đó kêu là tmé nop”.
Rời Ea Lâm với nhiều cảm giác lẫn lộn, trở lại Hà Nội, chúng tôi gặp Nguyễn Trường Giang, một cán bộ trẻ của bảo tàng Dân tộc học nhưng đã nhiều lần lặn lội ở Tây Nguyên để ghi chép sưu tầm về phong tục tập quán các dân tộc ở đây. Nghe chúng tôi kể lại những điều mình thấy ở Ea Lâm, anh Giang nói: “Ở nhiều vùng Tây Nguyên khác cũng như vậy thôi. Bây giờ bà con không làm tượng mồ như trước nữa, có nhà mồ nhưng tượng mồ cứ ít dần. Thậm chí có nơi tượng mồ cũ còn bị cắt đem về bán ở miền xuôi”.
Để giữ một nét di sản văn hoá độc đáo của Tây Nguyên, nhiều biện pháp đã được tiến hành với sự nỗ lực của các nhà dân tộc học và ngành văn hoá. Hai cuộc thi đẽo tượng nhà mồ đã được tổ chức cho các nghệ nhân trình diễn những kinh nghiệm nghệ thuật dân gian bằng kỹ thuật độc đáo của mình. Nhưng mọi biện pháp xem ra có phần chưa đủ... Các nghệ nhân chưa có “truyền nhân”.
Không còn tượng nhà mồ, kho tàng văn hoá vật thể và cả phi vật thể ẩn sau nó ở Tây Nguyên sẽ đơn điệu đi đáng kể. Có lẽ thế hệ con cháu của Y Đen, của chúng tôi chỉ còn được thấy tượng mồ Tây Nguyên ở bảo tàng hoặc qua phim ảnh, với lời thuyết minh được viết sẵn...
Theo SGTT