Sau nhiều năm nghiên cứu, mới đây Cục Di sản văn hóa (Bộ VH,TT&DL) đã hoàn chỉnh Dự thảo “Quy chế mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế di vật, cổ vật”, và vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến các cơ quan Bộ, ngành và tổ chức có liên quan.
Sau nhiều năm nghiên cứu, mới đây Cục Di sản văn hóa (Bộ VH,TT&DL) đã hoàn chỉnh Dự thảo “Quy chế mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế di vật, cổ vật”, và vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến các cơ quan Bộ, ngành và tổ chức có liên quan. Có thể nói, đây sẽ là văn bản pháp quy quan trọng tạo hành lang pháp lý cho việc mua bán, trao tặng... di vật, cổ vật đang được giới sưu tầm và yêu thích cổ vật đặc biệt quan tâm.
Theo Dự thảo, di vật, cổ vật được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế ở trong nước bao gồm những di vật, cổ vật có nguồn gốc hợp pháp; những di vật, cổ vật không thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; những di vật, cổ vật được quy định tại khoản 1, Điều 4 của Quy chế; đã đăng ký theo quy định tại Thông tư số 07/2004/TT-BVHTT; không nằm trong trong danh mục di vật, cổ vật mang ra nước ngoài ban hành kèm theo quy chế này và đã được Sở VH,TT&DL dán tem, cấp phép đưa ra nước ngoài.
Đối với các hình thức mua bán di vật, cổ vật, Dự thảo quy định rằng hoạt động mua bán di vật, cổ vật được thực hiện thông qua 3 hình thức: mua bán tại cơ sở kinh doanh di vật, cổ vật hợp pháp; đấu giá và mua bán trực tiếp giữa người mua và người bán mà không thông qua cơ sở kinh doanh di vật, cổ vật hoặc đấu giá.
Chủ cơ sở kinh doanh phải cung cấp đầy đủ thông tin về di vật, cổ vật cho khách hàng
Về mua bán di vật, cổ vật tại cơ sở kinh doanh, Dự thảo nói rõ: trước hết tổ chức, hoạt động, điều kiện và thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề mua bán di vật, cổ vật phải được thực hiện theo quy định tại Điều 29, 30 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP của Chính phủ. Thứ nữa, trước khi mở cơ sở kinh doanh di vật, cổ vật, chủ cơ sở kinh doanh phải lập danh mục những di vật, cổ vật đã có tại cơ sở kinh doanh và gửi đến Sở VH,TT&DL.
Trong quá trình thực hiện việc mua bán, chủ cơ sở kinh doanh phải lập sổ kiểm kê di vật, cổ vật mua vào, bán ra tại cơ sở kinh doanh (theo mẫu). Cạnh đó, khi mua bán tại cơ sở kinh doanh, chủ cơ sở kinh doanh phải cung cấp đầy đủ thông tin về di vật, cổ vật cho khách hàng. “Trường hợp di vật, cổ vật được phép mang ra nước ngoài thì chủ cơ sở kinh doanh có trách nhiệm cung cấp các giấy tờ cần thiết để khách hàng có thể làm thủ tục mang di vật, cổ vật ra nước ngoài”, Dự thảo cho biết. Ngoài ra, những di vật, cổ vật không nằm trong danh mục cấm mang ra nước ngoài thì được Sở VH,TT&DL cấp giấy chứng nhận (theo mẫu).
Vậy, việc mua bán trực tiếp giữa người mua và người bán mà không thông qua cơ sở kinh doanh hoặc đấu giá thì sao? Theo Dự thảo là phải được lập thành văn bản hoặc hợp đồng mua bán, có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục mua bán, nội dung của văn bản hoặc hợp đồng mua bán di vật, cổ vật phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Đối với việc trao đổi, tặng cho di vật, cổ vật giữa các bên phải được lập thành văn bản và phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục của việc trao đổi, tặng cho di vật, cổ vật được thực hiện theo quy định tại các Điều 463, 464, 465; 466, 467, 468, 469, 470 của Bộ luật Dân sự.
Xung quanh vấn đề thừa kế di vật, cổ vật, Dự thảo quy định rằng phải được lập thành văn bản, có người làm chứng và có công chứng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp thừa kế di vật, cổ vật không được lập thành văn bản (di chúc miệng hoặc không có di chúc) thì việc thừa kế được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Trình tự, thủ tục của việc thừa kế được thực hiện theo quy định tại Chương XXII của Bộ luật Dân sự.
Trong Dự thảo này cũng đã quy định thủ tục đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài. Chủ sở hữu di vật, cổ vật được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế quy định tại những điều trong Quy chế này muốn đưa di vật, cổ vật đó ra nước ngoài phải gửi hồ sơ đến Sở VH,TT&DL.
Hồ sơ đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài bao gồm: Đơn xin đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài (theo mẫu); văn bản hoặc hợp đồng mua bán có công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; những giấy tờ có liên quan tới di vật, cổ vật; và giấy chứng nhận chuyển quyền sở hữu di vật, cổ vật (nếu có).
Và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở VH,TT&DL xem xét và làm các thủ tục cần thiết để cấp giấy chứng nhận cho di vật, cổ vật để đưa ra nước ngoài. Trong trường hợp không đồng ý cấp phép cho di vật, cổ vật đưa ra nước ngoài phải nêu rõ lý do bằng văn bản. “Cửa khẩu đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài là Hà Nội và TP.HCM”, Dự thảo quy định.
Đâu là những di vật, cổ vật không được phép xuất ra nước ngoài?
Dự thảo cũng đưa ra quy định “Những di vật, cổ vật không thuộc những loại sau đây được phép xuất ra nước ngoài: Di vật, cổ vật thuộc các di tích cổ nhân, cổ sinh, hoá thạch, địa chất: xương cốt, xương răng động vật, thực vật; Di vật, cổ vật liên quan đến văn hoá cung đình; Đồ dùng của vua, của hoàng tộc như hoàng hậu, phi tần, quan lại; Các loại ấn, tín, kim sách; Các sách trong nội các, các sắc chỉ, lệnh chỉ, các văn bản của các Bộ trực thuộc triều đình và các địa phương; Di vật, cổ vật là hiện vật thuộc các di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng bao gồm: đồ thờ tự, hoành phi, câu đối, đại tự, bia ký, chuông, khánh, thần tích, thần phả, ngọc phả, sắc phong; Di vật, cổ vật thuộc di tích khảo cổ: công cụ sản xuất và dụng cụ sinh hoạt, vũ khí, đồ trang sức, nhạc khí, đồ tuỳ táng, hài cốt người và động vật cổ, đồ thờ tự, bộ phận kiến trúc, vật liệu, trang trí; Di vật, cổ vật thuộc di tích lịch sử: Di vật, cổ vật thuộc các di tích lưu niệm danh nhân, liên quan đến cuộc đời của những lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân trong mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học; Di vật, cổ vật thuộc di tích lưu niệm sự kiện, liên quan đến lịch sử phát triển văn hoá của dân tộc VN; Di vật, cổ vật thuộc di tích kiến trúc nghệ thuật: những vật liệu kiến trúc, bộ phận trang trí kiến trúc; Các tác phẩm điêu khắc, cấu kiện kiến trúc; Các tranh, tượng, tác phẩm mỹ thuật; Di vật, cổ vật thuộc danh lam thắng cảnh; Những mẫu vật làm từ động, thực vật quý hiếm; Di vật, cổ vật thuộc các bảo tàng do Nhà nước quản lý.
Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình của nền Mỹ thuật cận đại và hiện đại của VN được giải A mà đã được Nhà nước mua; Các tác phẩm trong danh sách các tác phẩm thuộc hồ sơ tác giả được Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước; Các tài liệu về lưu trữ, thư viện và văn bản thuộc về bảo mật quốc gia được bảo vệ theo quy định pháp luật về lưu trữ, thư viện và bảo mật quốc gia; Di vật, cổ vật phản ánh giá trị văn hoá đặc thù của các dân tộc thiểu số ở VN (tượng nhà mồ, cồng chiêng, trống đồng, sách cổ, tranh thờ); Những di vật, cổ vật tạm xuất, tái nhập để tham gia trưng bày và các hoạt động giao lưu văn hoá; Những di vật, cổ vật được Chính phủ, Bộ VH,TT&DL cho phép xuất”.
| Trao đổi với chúng tôi, TS Đặng Văn Bài, Cục trưởng Cục Di sản văn hoá (Bộ VH,TT&DL) cho biết, đây là văn bản pháp quy quan trọng tạo hành lang pháp lý trong lĩnh vực này. Mặc dù đã được tham khảo và nghiên cứu kỹ để xây dựng nên Dự thảo Quy chế nhưng trong chừng mực nào đó vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh hơn nữa Dự thảo Quy chế này. Ông Bài cũng nhấn mạnh, hiện nay Cục đang tổ chức lấy ý kiến các Bộ, ngành liên quan để bổ sung, hoàn chỉnh Dự thảo, ngoài ra cũng rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, giới sưu tầm cổ vật cho Quy chế để khi ban hành nó thật sự đi vào cuộc sống. | |
Theo VH