Thứ Hai, 28/11/2022
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

04/03/2016 00:00 419
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Nhà báo, Đại tá Thanh Đồng (Phan Xuyến) – một người lính Khu 4 từng đi qua hai cuộc kháng chiến đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ, một chiến sĩ làm báo tận tụy, nhạy bén, sắc sảo vì nước, vì dân đó đi vào cõi vĩnh hằng năm 2011. Lúc sinh thời, Ông đó viết một vài bài đăng trên Thông báo Khoa học của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là BTLSQG), trong đó, bài viết này, ông đưa ra nhiều thông tin thú vị, giúp chúng ta hiểu thêm về bối cảnh lịch sử khi Hiệp định sơ bộ - một hiệp nghị quốc tế đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chinh phủ Pháp ký kết bảy thập kỷ trước. Nhân kỷ niệm 70 năm ngày ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946-6/3/2016), BBT xin trân trọng giới thiệu lại cùng quý bạn đọc.

Thuở ấy, nhiều người thường gọi Hiệp định sơ bộ mùng sáu, tháng ba, năm 1946, ký lúc 16 giờ ngày đó, tại số nhà 38 - Lý Thái Tổ, Hà Nội giữa ta và Pháp là “Hiệp định Mácxít”. Đây không chỉ là một lối “chơi chữ” uyên thâm sâu sắc mà cha ông ta quen sử dụng trong đời sống chính trị-văn hóa-ngoại giao.

Mùng sáu tiếng Pháp là “six” (Xít); tháng ba là “Mars” (Mac), đọc là Xítmác. Ngay trước và sau khu ký kết hiệp định quốc tế đầu tiên trong lịch sử Chính phủ ta, có nhiều ý kiến khác nhau. Phần không ít là phân vân, lo lắng. Đáng chú ý là những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, công kích thâm độc, trắng trợn của các thế lực phản động, thù địch càng làm cho những lo lắng, phân vân có cơ lan nhanh, phát triển rộng. Bởi một thực tế rõ ràng là suốt 6 tháng gây lại chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp có quân Anh, quân Nhật giúp sức và Mỹ đứng đằng sau hậu thuẫn, vẫn bị đồng bào và chiến sĩ ta giam chân lại từ cực Nam Trung bộ trở vào. Nay bỗng nhiên theo Hiệp định 6-3, 15.000 quân Pháp sẽ vào đóng quân trên vùng đất từ Trung Trung bộ trở ra, kể cả Thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, Điện Biên Phủ và các vùng biên giới.

Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6-3-1946, trang 1 (Bản sao tiếng Pháp)

Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6-3-1946, trang 2 (Bản sao tiếng Pháp)

Phụ khoản Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6-3-1946, trang 1 (Bản sao tiếng Pháp)

Phụ khoản Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt ngày 6-3-1946, trang 2 (Bản sao tiếng Pháp)

Đã có lúc Bác Hồ của chúng ta buộc lòng phải thốt lên những lời vàng đá, ruột gan: “Tôi xin hứa với đồng bào rằng: Hồ Chí Minh không phải là người bán nước”.

Khi đã hiểu rõ sự vật và sự thật, ngẫm ngợi, suy nghĩ về bước đi chiến lược trên bàn cờ thế trận của Tổ quốc lúc bấy giờ, mọi người mới gật gù: “Đúng là một Hiệp định Mácxít”. Các cụ đồ Nho thì tâm đắc: “Chỉ có Cụ Hồ mới nghĩ ra nước cờ thế sắc sảo ấy. Tống khứ được hai chục vạn anh Tàu Tưởng cũng là trừ được mối họa thường trực, thường ngày. Chưa tính các sự cắt đuôi, cắt nhợ lằng nhằng khác!”.

Bảy mươi năm trôi qua. Một dịp “ôn cũ để biết mới” về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương và về sự nhân nhượng có nguyên tắc khi cần thiết phải nhân nhượng.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, quả thật trăm đường, nghìn mối, phức tạp, khó khăn. ở phía Nam, dưới sự lãnh đạo Đảng và Hồ Chủ tịch, quân và dân miền Nam đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, gây cho địch nhiều tổn thất. Nhưng lực lượng quân sự ta có hạn, thực dân Pháp đã chiếm được tất cả thành phố, thị xã và các đường giao thông quan trọng từ cực Nam Trung bộ đến Nam bộ. Buôn Ma Thuột rơi vào tay địch. Đi đôi với các cuộc hành quân chiếm đóng, “bình định”, thực dân Pháp ráo riết sử dụng những bọn tay sai đầu sỏ dựng lên cái gọi là “Nam kỳ quốc”, nhằm thực hiện âm mưu mà Đờgôn đưa ra trong tuyên bố 24-3-1945 là: thành lập Liên bang Đông Dương gồm 5 xứ khác nhau, mà mọi quyền hành sẽ nằm trong tay Pháp, phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp...

Quân Anh, dù mang danh nghĩa quân Đồng minh, nhưng trên thực tế đã dùng quân đội Nhật chống lại quân và dân ta; tiếp tay cho Pháp đánh chiếm Nam bộ, cực Nam Trung bộ. Cuộc chiến đấu ở miền Nam bước vào thời kỳ gay go, quyết liệt, dù rằng ta đã làm thất bại kế hoạch tốc chiến tốc thắng của tướng Pháp Lơ Cơléc “lấy Nam kỳ trong vòng 18 ngày”.

Trên vùng đất từ vĩ tuyến 16 trở ra, hai chục vạn quân Tưởng và tay sai thường xuyên và ráo riết xúc tiến âm mưu “diệt cộng, cầm Hồ” (tiêu diệt Đảng Cộng sản, bắt Bác Hồ), lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền tay sai phản động.

Trong khi đó, ở Campuchia, vua Xihanúc đã chịu để Pháp trở lại cai trị. Thực dân Pháp đã đặt bộ máy thống trị đến thôn ấp. ở Lào, được Anh tiếp tay, thực dân Pháp cấu kết với bọn phản động chiếm đóng các thị xã, thị trấn lớn ở Hạ Lào, mặc dù bộ đội Itxala và Liên quân Lào - Việt nỗ lực lớn, đánh nhiều trận, bẻ gẫy nhiều cuộc hành quân của Pháp và tiến công nhiều nơi đóng quân của chúng, nhưng do lực lượng có hạn, địch đã khống chế vùng nông thôn rộng lớn, bao vây các thành phố, thị xã.

Vốn đã sắp sẵn ý đồ sử dụng tập đoàn Tưởng Giới Thạch làm tay sai chống phá cách mạng các nước Đông Dương, dọn đường cho Mỹ nhảy vào, nên sau khi biết Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, Mỹ càng ráo riết ủng hộ Tưởng Giới Thạch tìm cách lật đổ chính quyền non trẻ của nước ta. Mỹ đã viện trợ cho Tưởng nhiều vũ khí, hơn 4 tỷ đô la hàng hóa, đặt cố vấn quân sự bên cạnh Chính phủ Trùng Khánh.

Đảng ta và Hồ Chủ tịch thấy trước tình thế hết sức phức tạp đang đặt ra trước vận mệnh dân tộc, đã chăm chú theo dõi mọi động thái của kẻ thù, tính toán từng nước cờ, gấp rút chuẩn bị mọi mặt đối phó với tình hình xấu nhất, kêu gọi toàn dân “tận lực giữ gìn giang sơn”, xây dựng lại Tổ quốc để “dân tộc Việt Nam tiến nhanh tới đài vinh quang”. Anh đang rút hết quân khỏi nước ta. Quân Nhật đang lần lượt hồi hương. Tham vọng của quân Tưởng rất lớn, nhưng sau hơn nửa năm vấp phải sức mạnh đoàn kết của toàn dân, toàn quân ta, chúng không thực hiện được âm mưu tiêu diệt cộng sản, lật đổ Nhà nước ta. Bọn tay sai bị ta trừng trị, truy quét, bọn đầu sỏ bất lực và không có lực lượng đáng kể, dù rằng ta đã nhân nhượng chấp nhận dành 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử cho “Việt Quốc” (50 ghế), “Việt Cách” (20 ghế). Chúng đòi thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca. Ta kiên quyết không nhân nhượng. Ta đã đưa Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ tịch nước, Nguyễn Tường Tam làm Bộ trưởng Kinh tế, Trương Đình Tử làm Bộ trưởng Y tế. Tư lệnh quân Tưởng và tay sai lấn tới đòi đưa các cán bộ trưởng là đảng viên cộng sản ra khỏi chính phủ, giao cho tay sai Tưởng những bộ quan trọng. Vì lợi ích cao nhất của đất nước, ta nhận nhượng thêm một bước. Chính phủ mới có 10 bộ, thì bốn bộ do Việt Minh và Đảng Dân chủ nắm, bốn bộ do “Việt Quốc”, “Việt Cách” làm bộ trưởng; hai bộ Quốc phòng và Nội vụ do người không đảng phái nắm. Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Nguyễn Hải Thần làm Phó. Chính phủ Liên hiệp chính thức 10 bộ, với sự kiện lớn: nhiều đảng viên cộng sản rút khỏi Chính phủ; hai bộ Nội vụ và Quốc phòng do người ngoài Đảng nắm đã được Quốc hội khóa I (họp ngày 2-3-1946) thông qua. Quốc hội còn có một quyết định quan trọng là thành lập “Toàn quốc kháng chiến ủy viên hội” (sau gọi là ủy ban kháng chiến toàn quốc, rồi đổi thành Quân sự ủy viên hội, thường gọi là Quân ủy hội). Nhiệm vụ của “Toàn quốc kháng chiến ủy viên hội” là thống nhất mọi lực lượng của quốc gia về quân sự, chính trị, kinh tế, hành chính; động viên nhân lực, vật lực cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Đây là sự nhân nhượng lớn, nhưng nhân nhượng có nguyên tắc. Nhân nhượng cần thiết để hạn chế đến mức thấp nhất những hoạt động chống phá cách mạng do quân Tưởng và tay sai gây ra...

Đây cũng là một nước cờ chủ động, sáng suốt xuất phát từ sự đánh giá đúng, nhận định đúng tình hình rối ren, phức tạp, đầy biến động đang diễn ra. Pháp đang ráo riết xúc tiến kế hoạch đưa quân ra Bắc để gây sức ép với ta và với cả quân Tưởng. ép Tưởng sớm ngã giá trong cuộc mặc cả hiệp ước Pháp - Hoa. Song, Đảng và và Hồ Chủ tịch biết rằng: Trong sự hung hăng, ngoan cố tưởng như có thể áp đặt mọi điều kiện cho đối phương, Pháp cũng gặp những mâu thuẫn lớn.

Pháp cũng biết rằng dù lực lượng quân sự Việt Nam còn non trẻ, nhưng đã khác thời kỳ đầu.

Đến đêm 5-3-1946, Pháp vẫn rất ngoan cố, Đảng ta và Hồ Chủ tịch vẫn kiên định lập trường có tính nguyên tắc: “Nếu Pháp giữ chủ trương Đông Dương tự trị theo tuyên ngôn 24-3-1945 thì nhất định đánh và rất có thể đánh lâu dài theo lối du kích. Nhưng nếu Pháp công nhận Đông Dương tự chủ, thì có thể hòa, hòa để phá tan âm mưu của bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Pháp còn sót lại. Chúng định hãm ta vào thế cô lập, buộc ta phải đánh với nhiều kẻ thù một lúc để thực lực của ta bị tiêu hao” (Chỉ thị ngày 3-3-1946 của Thường vụ Trung ương Đảng). Đảng và Hồ Chủ tịch nắm chắc địch, nên đã nhận định: “Hiệp ước Pháp - Hoa không phải là chuyện riêng của Tàu Tưởng và Pháp; nó là chuyện chung của bốn đế quốc và tay sai của chúng ở thuộc địa”. “Muốn cứu vãn quyền lợi chung của đế quốc, chống phong trào cách mạng vô sản và cách mạng thuộc địa, Anh, Pháp, Mỹ và Tàu Tưởng đã tạm dẹp mâu thuẫn bộ phận ở Đông Dương”.

Đại diện Chính phủ Việt Nam, Pháp, Anh, Mỹ, Tưởng chụp ảnh lưu niệm sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Hà Nội.

Đảng ta và Hồ Chủ tịch hiểu rằng: Hiệp ước “Song thập” (10-10-1945) ký giữa hai phe Quốc - Cộng ở Trung Quốc tan vỡ, dẫn đến nội chiến lần thứ ba lại nổ ra. Tưởng Giới Thạch buộc phải đưa quân đoàn 53 được Mỹ trang bị hiện đại sang thế chân cho hai quân đoàn 50 và 62 tung vào hướng đông bắc Trung Quốc đánh nhau với Hồng quân nước bạn. Quân Tưởng không thể giải quyết mâu thuẫn giữa tham vọng muốn nuốt trôi Việt Nam với khả năng đồng thời đánh bại Hồng quân Trung Quốc. Chu Phúc Thành thay Lư Hán và những kẻ cầm đầu quân Tưởng muốn kéo dài thời gian đóng quân ở Việt Nam để buôn bán kiếm lời, nên kiếm cớ trì hoãn thi hành hiệp ước Pháp - Hoa, nổ súng bắn chìm tàu Pháp khi hạm đội Pháp tiến vào sông Cấm, Hải Phòng. Nhưng khi Pháp và Tưởng đã thỏa thuận với nhau thì dù Lư Hán không muốn, dù Chu Phúc Thành nấn ná cũng không được. Đằng sau Hiệp ước Pháp - Hoa ký kết sau sáu tháng kéo dài đàm phán tiềm ẩn bao mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc, giữa các đế quốc với cách mạng nước ta và cách mạng 2 nước bạn Lào, Campuchia, cho phép Đảng ta đi đến quyết định cuối cùng: "Hòa để tiến" với tư tưởng chỉ đạo rõ ràng, kiên quyết: “Vấn đế lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng” (Những sự kiện lịch sử Đảng. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1979. (1945-1954), tr 54).

Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946.

Vì vậy, ngày 5-3-1946, lúc hạm đội Pháp tiến vào Hải Phòng, không khí chiến tranh đã lên tới đỉnh điểm căng thẳng, Đảng, Quốc hội, Chính phủ ta và Hồ Chủ tịch vẫn giữ thái độ kiên quyết, bình tĩnh, sáng suốt. Một mặt, ủy ban kháng chiến toàn quốc ra lời kêu gọi nhân dân cả nước sẵn sàng đứng lên đánh giặc cứu nước. Quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương hừng hực không khí quyết chiến, quyết thắng. Phụ nữ, người già và trẻ em bắt đầu sơ tán khỏi thành phố. Mặt khác, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng nhất trí với chủ trương “Hòa để tiến" do Thường vụ Trung ương Đảng đề xuất: “Hòa với Pháp để có thể phá tan âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động, bảo toàn lực lượng, có thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, tiến tới giành độc lập hoàn toàn” (Sđd, tr 54). Thời điểm này, phía Pháp càng ráo riết thúc đẩy Lơ Côngtơ, Xanhtơni cố gắng dàn xếp với ta để sớm đi đến một Hiệp định theo lập trường của Pháp dưới sức ép quân sự. Ta vẫn kiên quyết bác bỏ yêu sách của họ. Ta trước sau như một, không chấp nhận “Chế độ tự trị” mà họ cố áp đặt. Ta biết rằng: Pháp không thừa nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập vì họ sợ cả hệ thống thuộc địa của họ sẽ bị lây lan ảnh hưởng. Song đến lúc này, vấn đề 20 vạn quân Tưởng, kéo theo đó là tay sai “Việt Quốc”, “Việt Cách” đã được giải quyết. Nguy cơ cùng một lúc phải đương đầu với nhiều loại kẻ thù nguy hiểm được tháo gỡ. Chỉ cần tập trung mũi nhọn vào thực dân Pháp xâm lược. Để tạo “lối thoát” cho cả hai bên: Tưởng dễ dàng thi hành hiệp ước Pháp-Hoa; Pháp cũng đang cần đến một giải pháp chính trị dù tạm thời mà không cảm thấy quá “mất mát nhục nhã”, ta thì lợi dụng được mâu thuẫn Pháp-Tưởng, đuổi nhanh quân Tưởng ra khỏi đất nước, quét sạch bọn phản động tay sai của Tưởng; tranh thủ được thời gian quí báu và cần thiết, nhằm khôi phục, phát triển cơ sở kháng chiến ở miền Nam, xây dựng lực lượng miền Bắc, chuẩn bị cho cuộc toàn quốc kháng chiến lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một sáng kiến mới buộc Pháp khó lòng giữ mãi bản chất thực dân ngoan cố. Người đề nghị dùng khái niệm “Tự do” thay cho “Độc lập”, “Tự trị”. Chính phủ Pháp công nhận “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do nằm trong Khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việc thống nhất đất nước sẽ được quyết định bằng trưng cầu ý dân. Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí...” Đổi lại việc 20 vạn quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, ta đồng ý để 15.000 quân Pháp vào tiếp phòng thay, nhưng với điều kiện phải rút khỏi Việt Nam sau 5 năm, mỗi năm rút 1/5 ... Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, có được một hiệp nghị quốc tế đầu tiên, với sự có mặt của đại diện Trung Hoa Dân quốc, Anh, Mỹ, đúng là một “mẫu mực về sự nhân nhượng có nguyên tắc và về lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch”. “Mácxít” là ở điều then chốt vẫn nóng hổi giá trị trường sinh và tính thời sự ấy!

BBT giới thiệu

(Theo: Thông báo Khoa học. BTCMVN, tháng 6-2006)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài viết khác

Khảm trai truyền thống – một loại hình nghệ thuật độc đáo của Việt Nam

Khảm trai truyền thống – một loại hình nghệ thuật độc đáo của Việt Nam

  • 29/02/2016 00:00
  • 426

Nghề khảm, nói chung đã có lâu đời ở nước ta. Khảm xà cừ hay cẩn xà cừ (ngày nay gọi là khảm trai) là một nghề thủ công từ xưa đã khá phát triển, vì có nguồn nguyên liệu dồi dào; bởi Việt Nam là một quốc gia có địa thế nằm trải dài theo bờ biển. Tương truyền, dưới triều vua Lý Nhân Tông, cụ Trương Quang Thành người thôn Ngọ, Chương Mỹ Phú Xuyên, Hà Đông biết chọn các mảnh vỏ trai, vỏ ốc xà cừ, ghép và cẩn lên gỗ, tạo được những sản phẩm mỹ nghệ độc đáo. Theo truyền thuyết, nghề khảm ở Chuyên Mỹ do ông Trương Công Thành, một vị tướng dưới thời Lý truyền dạy cho dân làng Chuôn Ngọ. Các bậc cao niên kể lại rằng, sau khi Đức Trương Công Thành treo ấn từ quan, ngài quy y Phật Pháp và đi du sơn du thủy. Một lần trên bãi biển, ngài bắt gặp một loài thủy vật nằm trên cát, không có ruột mà chỉ còn vỏ.