Thứ Sáu, 09/10/2026
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

20/05/2014 00:33 2118
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Nhân kỷ niệm lần thứ 124 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2014), sáng ngày 19/5/2014, Chi bộ 3, Đảng bộ Bảo tàng Lịch sử quốc gia tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề: “Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp bảo tàng”.

Tham dự buổi sinh hoạt đặc biệt này có các đảng viên thuộc chi bộ 3, đại diện BCH Đảng ủy và các đảng viên chi bộ 1 và 2 thuộc Đảng bộ Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Các đại biểu đã nghe báo cáo chuyên đề do đồng chí Nguyễn Thị Tường Khanh trình bày về 2 vấn đề chính: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ và đạo đức nghề nghiệp bảo tàng qua các câu chuyện liên quan đến 6 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và làm việc tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam trước đây, nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

1. Đạo đức công vụ:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức, nhất là đạo đức của người cách mạng. Điều này được thể hiện xuyên suốt trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của Người và chính Hồ Chí Minh cũng là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, đạo đức của người công vụ. Người coi đạo đức chính là tiêu chí hàng đầu, là "gốc" con người, là cơ sở định hướng cho sự phát triển tài năng của con người để phục vụ lợi ích chung của Đảng, của giai cấp và của dân tộc.

Đối với người công chức, đạo đức vô cùng quan trọng. Là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân nên ngoài năng lực, người công chức phải thực sự là những người có tư cách đạo đức tốt. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực cơ bản sau:

Một là, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư.

Theo Hồ Chí Minh, để phụng sự đoàn thể, giai cấp, nhân dân và Tổ quốc ngày càng tốt hơn thì mọi người đều phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết với nhau. Bác nhấn mạnh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vô cùng quan trọng và cần thiết, là nền tảng của đời sống mới, là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc. Theo Người, một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm, Chính “là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”.

Hai là, phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc.

Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”. Là cán bộ, không nên suy bì xem công việc của mình có quan trọng hay không. Công việc nào cũng cần thiết đối với cách mạng. Vấn đề là ở chỗ khi đã làm việc gì dù gặp khó khăn, trở ngại cũng phải quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”.

Ba là, chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ.

Mỗi người phải chấp hành nghiêm những quy định của cơ quan, của tổ chức. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ cần phải gương mẫu về đạo đức, tự giác tuân thủ kỷ luật của cơ quan, giữ vững nền nếp công tác, tránh được những cám dỗ. Tinh thần sáng tạo trong công việc cũng là một chuẩn mực đạo đức mà người cán bộ phải phát huy.

Bốn là, có ý chí cầu tiến bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc.

Người cán bộ phải luôn có chí tiến thủ, tinh thần cầu tiến bộ. Tinh thần cầu tiến bộ, học tập không ngừng là một yêu cầu cao đối với mỗi cán bộ, công chức.

Năm là, có tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong thực hiện công việc.

Mọi người cần đoàn kết thân mật, hợp tác chặt chẽ như tay với chân thì công việc mới hoàn thành được. Nếu trong một tập thể mà các thành viên có thành kiến với nhau, dè dặt, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau thì “nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”. Tuy nhiên, thân ái, hợp tác ở đây không phải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp mà để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ và trong cuộc sống.

Những chuẩn mực đạo đức công vụ này có sự quan hệ, tác động lẫn nhau trong một hệ thống chuẩn mực thống nhất. Có lòng trung với nước hiếu với dân, có lòng yêu thương con người thì mới hết lòng, hết sức đem tài đức của mình phục vụ nhân dân. Có như vậy mới thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy vì công việc chung. Nhờ vậy mới giữ được kỷ luật của cơ quan, tổ chức, mới rèn được tinh thần trách nhiệm cao với công việc và ý chí phấn đấu vươn lên không ngừng. Khi giữ được phẩm chất trong sạch, không tham địa vị, danh vọng, tiền tài, có lòng chính trực thì chắc chắn sẽ có tình thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong công việc.

Đạo đức công vụ không phải tự thân nó có. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức công vụ, chắc chắn chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay, việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức đối với người công chức càng trở nên cần thiết, bởi những đòi hỏi của đời sống xã hội, của người dân đối với bộ máy hành chính nhà nước ngày một cao hơn. Đồng thời, trong nền kinh tế thị trường, những cám dỗ vật chất và tinh thần từ cuộc sống tác động rất mạnh mẽ; nếu không thường xuyên rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, người công chức sẽ nhanh chóng xa rời mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, sa vào chủ nghĩa cá nhân, làm mất lòng tin của quần chúng, từ đó, làm yếu đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trên cơ sở những chuẩn mực chung của đạo đức công vụ, mỗi cơ quan, đơn vị, cá nhân với chức năng và nhiệm vụ khác nhau, cần dựa trên những đặc thù riêng của mình để thực hành đạo đức công vụ một cách hiệu quả nhất.

2. Đạo đức nghề nghiệp bảo tàng

2.1. “Quy tắc đạo đức bảo tàng của ICOM”

Trong lĩnh vực bảo tàng, vào tháng 11 năm 1986, trong cuộc họp lần thứ 15 diễn ra tại Achentina, Đại hội đồng ICOM đã nhất trí phê chuẩn một văn bản quan trọng liên quan đến bảo tàng và những người đang làm việc trong lĩnh vực này với tên gọi: “Quy tắc đạo đức bảo tàng của ICOM”. Bản quy tắc này đã được sửa đổi tại cuộc họp Đại hội đồng ICOM lần thứ XX tại Barcelona (Tây Ban Nha) ngày 7 tháng 6 năm 2001 và sau đó, lại được sửa đổi, bổ sung tại cuộc họp Đại hội đồng lần thứ XXI ở Seoul (Hàn Quốc) vào ngày 8 tháng 10 năm 2004. “Quy tắc đạo đức bảo tàng của ICOM” là một văn bản rất cần thiết đối với các bảo tàng cùng những ai làm việc trong lĩnh vực này, bởi đó là những quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp chung, có thể áp dụng cho các bảo tàng trên phạm vi toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, ý thức được tầm quan trọng của bản Quy tắc trên, năm 2005, Cục Di sản văn hóa đã cho dịch sang tiếng Việt và in thành sách có tựa đề: “Hội đồng quốc tế các bảo tàng - Lịch sử và Quy tắc đạo đức bảo tàng”. Đây là văn bản giúp các cán bộ, công chức đang làm việc trong lĩnh vực bảo tàng nắm vững các quy tắc đạo đức nghề nghiệp để “hành nghề” cho đúng và tốt hơn.

2.2. Đạo đức nghề nghiệp bảo tàng qua các câu chuyện trong những lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và làm việc tại BTCMVN và BTLSVN.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm quan Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), ngày 05/01/1959.

Lần đầu tiên Bác tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (trước đây), đó là vào chiều ngày 5-1-1959, một ngày trước khi bảo tàng được khánh thành. Sau khi xem xong trưng bày bảo tàng, trong khi nói chuyện với anh chị em cán bộ của bảo tàng, Người nói: “Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ, các gia đình cách mạng, cơ sở cách mạng và cán bộ, ai giữ được lưu niệm cách mạng đem nộp cho Viện. Bác cũng có cái này, không biết các chú có giữ được không?”. Đồng chí Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Đặng Xuân Thiều nói: “Thưa Bác, chúng cháu quyết tâm giữ gìn ạ”. “Nếu giữ được, Bác đưa để mà dùng!”. Bác đưa cho đồng chí Đặng Xuân Thiều một cái túi trông giống như những túi vải trong kháng chiến chống Pháp, bộ đội ta vẫn dùng để đựng thuốc đánh răng và dao cạo râu. Trong đó chỉ có một chiếc lược làm bằng vỏ đồi mồi, có khắc dòng chữ “Nguyễn Thị Thanh, Côn Đảo, 1917”. Sau khi xác minh, chiếc lược này là của bà Nguyễn Thị Thanh – vợ ông Nguyễn Đình Kiên (Tú Kiên) – một nhân sĩ yêu nước ở Hà Tĩnh. Năm 1917, bà ra nhà tù Côn Đảo thăm chồng. Khi về, Ông đã tặng bà chiếc lược này. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bà là Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Tĩnh. Trong lần ra Hà Nội dự Hội nghị Phụ nữ Cứu quốc, bà đã đem theo chiếc lược với ý định nếu được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh thì sẽ tặng Người kỷ vật này. Đúng như ý nguyện của bà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nói chuyện với Hội nghị và bà mang chiếc lược tặng Bác. Người đã giữ gìn cẩn thận “kỷ vật vô giá” – như lời Người đã nói với bà Nguyễn Thị Thanh khi nhận chiếc lược và khi đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Người đã mang theo và tặng lại cho Bảo tàng. Qua đây, chúng ta hiểu thêm rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn trân trọng tình cảm của nhân dân giành cho mình. Người luôn ý thức giữ gìn kỷ vật, trao tặng và tin tưởng Bảo tàng Cách mạng Việt Nam sẽ là nơi lưu giữ, bảo quản tốt nhất cũng như trưng bày, giới thiệu tới các tầng lớp nhân dân đến tham quan. Sau khi Bác về, Bảo tàng có gửi Văn phòng Trung ương Đảng cuốn sổ vàng, Bác đã ghi nhận xét: “Chưng bày khéo, giải thích rõ,Viện Bảo tàng là một trường học tốt về lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam ta”. Niềm tin ấy đã được Người khẳng định thêm một lần nữa.

Lần thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông R.Pra-xát, Tổng thống Ấn Độ tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vào sáng 23-3-1959. Người trực tiếp hướng dẫn Tổng thống Ấn Độ xem bảo tàng và nói về cách kéo pháo của bộ đội ta bằng sức người với chiếc tời bằng gỗ ở phòng trưng bày về “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”.

Ba tháng sau, 9h sáng ngày 25-6-1959, Người lại cùng Tổng thống nước Cộng hòa Inđônêxia Xucácnô đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Mười ngày sau trên trang 3 báo Nhân Dân số ra ngày 4-7-1959 có đăng bài viết của Bác Hồ với bút danh “T.L” với nhan đề “Xem Viện Bảo tàng Cách mạng”. Đây là bài viết đầu tiên và cũng là duy nhất của Bác viết về Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống nước Cộng hòa Inđônêxia Xucácnô đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), ngày 25/6/1959.

Sáng này 12-3-1963, Bác cùng đi với Vua Lào Xrixavang Vát thana và Thủ tướng Lào Xuvana Phuma tới thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Khi xem xong sa bàn “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, Bác nói “Bảo tàng làm được cái sa bàn đẹp đấy”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng vua Lào Xri xavang Vátthana thăm quan Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), tháng 3/1963.

Lần cuối cùng, Người đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam vào sáng 21-10-1964, chỉ hơn hai tháng sau khi Mỹ bắt đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc. Người đi cùng ông Môđibô Câyta, Tổng thống nước Cộng hòa Mali. Một đồng chí cán bộ lãnh đạo của Bảo tàng, sau khi báo cáo tình hình hoạt động của cơ quan, trình bày thêm: “Thưa Bác, hiện nay biên chế của Bảo tàng có 40 người, chúng cháu đề nghị Bộ tăng lên 60 người mà 2 năm nay vẫn chưa được giải quyết”. “Ừ, nhiều việc quan trọng thật” – Bác nói: “Bác kêu gọi cả nước mỗi người làm việc bằng hai. Nhưng các chú khác. Làm việc tại Bảo tàng Cách mạng - Bảo tàng của Đảng thì mỗi người phải làm việc bằng bốn. Theo Bác, 40 người là còn nhiều”. Trong khi đoàn đi xem bảo tàng, Bác tự đi riêng xem các phòng trưng bày. Đến phòng “Phong trào cách mạng miền Nam”, Bác dừng lại xem một lúc rồi nói: “Bác đến bảo tàng mấy lần, ngay từ ngày mới khánh thành, nhưng cho đến nay, nội dung phòng này vẫn như trước. Phong trào cách mạng miền Nam bây giờ khác lắm rồi. Phải chỉnh lý, bổ sung nội dung trưng bày cho phù hợp với tình hình mới chứ”. Đến phòng trưng bày về cải cách ruộng đất, Bác hỏi “Phòng này là phòng gì?”. Người còn dạy: “Sao không có tên phòng ở ngoài? Hồi còn hoạt động ở nước ngoài, Bác hay đi xem các bảo tàng. Ở đó họ đều có sơ đồ các phòng có đánh số, mỗi phòng đều có biển ghi tên. Khách đến xem bảo tàng chỉ cần xem sơ đồ, tên phòng là biết ngay phòng mình cần xem”. Tiếp thu ý kiến của Bác, từ đó Bảo tàng mới làm sơ đồ và biển tên các phòng trưng bày.

Đến phòng trưng bày về “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, đồng chí thuyết minh bảo tàng nói: “Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm, Đông giáp...”. Thấy thế, Bác nói luôn: “Này chú! Các vị khách không có nhiều thời gian đâu. Chú giới thiệu như vậy bao giờ mới xong? Phải nói khái quát, tập trung, đi thẳng vào vấn đề, đừng Đông–Tây–Nam–Bắc gì nữa”. Rồi Người giới thiệu cho cả đoàn nghe bằng tiếng Pháp trong vòng đúng 7 phút. Đó là một bài học hết sức sinh động cho những cán bộ làm công tác thuyết minh của Bảo tàng.

Với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (trước đây), Người đã đến thăm quan Trưng bày các hiện vật được khai quật từ khu di chỉ Thiệu Dương (Thanh Hóa), tháng 2-1961.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đang xem bản dập đúc mặt trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), tháng 2/1961.

Qua những câu chuyện trong 6 lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và làm việc với Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những lời dạy của Người về công tác trưng bày và thuyết minh bảo tàng vẫn luôn là những bài học quý báu cho những thế hệ cán bộ chuyên môn sau này. Trưng bày dễ hiểu, hấp dẫn, thường xuyên nghiên cứu thay đổi nội dung, hình thức trưng bày để phù hợp và đáp ứng nhu cầu của khách tham quan bảo tàng. Cán bộ làm công tác thuyết minh đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc về các vấn đề lịch sử, các nhân vật, sự kiện lịch sử; Giao tiếp gần gũi, thân thiện với khách tham quan; Phương pháp thuyết minh ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng khách tham quan. Trong quá trình làm việc phải không ngừng học hỏi, nghiên cứu, trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức, kỹ năng cần thiết. Những cách làm không mang tính hình thức, nhưng lại vô cùng hiệu quả, thiết thực.

Dưới sự chủ trì của đồng chí Vũ Mạnh Hà - Bí thư Chi bộ 3, các đại biểu và đảng viên trong Chi bộ đã sôi nổi tham gia trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan đến suy nghĩ, việc làm và thực hành đạo đức công vụ trên cơ sở 5 chuẩn mực chung về đạo đức công vụ theo tư tưởng của Bác; về đạo đức nghề nghiệp bảo tàng trong giai đoạn đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay và những việc làm, hành động thiết thực trong thực thi công tác chuyên môn, nghiệp vụ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện nay.

Đây là một hoạt động triển khai Nghị quyết của Đảng bộ Bảo tàng Lịch sử quốc gia về đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt Đảng, đồng thời có ý nghĩa thiết thực nhằm hướng tới kỷ niệm ngày sinh lần thứ 124 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương và Đảng ủy Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai trong thời gian qua.

Nguyễn Thị Tường Khanh

(Chi bộ 3, Đảng bộ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Chia sẻ:

Bài viết khác

Công điện của Bộ trưởng VHTT&DL về việc đảm bảo an ninh trật tự

Công điện của Bộ trưởng VHTT&DL về việc đảm bảo an ninh trật tự

  • 19/05/2014 17:58
  • 1811

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 800/VPCP-QHQT ngày 10/5/2014 về thông tin liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép tại vùng biển Việt Nam và Công điện số 697/CĐ-TTg ngày 15/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đảm bảo an ninh, trật tự, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Công điện số 1538/CĐ-BVHTTDL ngày 16/5/2014 gửi Giám đốc các Sở VHTTDL các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ về việc đảm bảo an ninh, trật tự, tăng cường bảo vệ các tài liệu, hiện vật liên quan đến chủ quyền quốc gia tại Hoàng Sa, Trường Sa, biển đảo của Tổ quốc; thực hiện các trưng bày lưu động giới thiệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam gắn với chủ quyền biển đảo của Tổ quốc…. Toàn văn Công điện như sau: