Thứ Sáu, 06/12/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

14/08/2018 00:00 513
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Khúc dạo nhạc đầu tiên - Giấc mơ tìm kiếm chiến thuyền Geobukseon

Khúc dạo nhạc đầu tiên - Giấc mơ tìm kiếm chiến thuyền Geobukseon

Trước khi ngành khảo cổ học dưới nước được hình thành ở Hàn Quốc, cuộc khảo sát đầu tiên về di sản văn hóa dưới nước đã được thực hiện vào năm 1973 ở địa điểm Chilcheonryang thuộc đảo Geojedo. Mục đích của cuộc khảo sát này là nhằm xác định vị trí của con tàu geobukseon (quy thuyền - tàu hình rùa), một loại thuyền chiến bọc sắt của thủy quân triều đại Joseon sử dụng trong chiến tranh Triều - Nhật cuối thế kỷ 16. Với sự hỗ trợ của lực lượng Hải quân và Cục địa chất Hàn Quốc, Cục Quản lý Tài nguyên Văn hóa (nay là Cục Di sản Văn hóa) đã thực hiện một cuộc khảo sát với các thợ lặn và máy quét sonar, tuy nhiên đã không phát hiện được dấu vết của geobukseon. Năm 1978, đoàn khai quật tàu đắm Shinan báo cáo rằng họ đã phát hiện được một xác tàu có thể là geobukseon ở ngoài khơi Dangpo, nhưng rốt cuộc những thợ lặn xác định đó chỉ là một tàu đánh cá bị đắm.

Bản vẽ mô tả tàu Geobukseon trong sách Quyển thủ đồ thuyết (Lý Trung Võ Công Toàn Thư)

Dù vậy, những nỗ lực tìm kiếm tàu geobukseon vẫn không dừng lại. Viện Khai quật Hiện vật về Các trận hải chiến của Đô đốc Yi Sun-Sin, được thành lập bởi Hải quân Hàn Quốc vào năm 1989, đã thực hiện hàng loạt cuộc khảo sát tại các địa điểm diễn ra những trận hải chiến giữa quân đội của Yi Sun-Sin với quân xâm lược Nhật Bản, ví dụ như Chilcheoryang ở Geoje, đảo Hansando ở Tongyeong và Noryang ở Namhae. Năm 1992, Viện này thông báo đã tìm được byeolhwangjachontong, một loại súng thần công sử dụng trên tàu geobukseon. Tuy nhiên, những chuyên gia giám định đã phát hiện ra đó chỉ là đồ giả. Đại tá Hwang, giám đốc của Viện này, đã bao che cho việc dùng một phiên bản súng thần công mua tại một cửa hàng đồ cổ và thả xuống vùng biển thuộc đảo Hansado để làm giả một hiện vật khảo cổ. Đây là một cú sốc đối với giới học thuật Hàn Quốc.

Vài năm trước đây, Văn phòng tỉnh Gyeongsangnam-do đã thực hiện một cuộc khảo sát từ tháng 7/2008 đến tháng 4/2009 tại vùng biển Chilcheonryang với thiết bị máy dò âm thanh đa tia và máy đo trắc diện đáy biển. Cho dù có nhiều hiện vật khác lạ được tìm thấy tại một vài điểm, nhưng không có dấu vết nào của geobukseon. Theo các tài liệu lịch sử, quân đội Triều Tiên chỉ có từ 3 - 5 tàu bọc sắt trong cuộc chiến với Nhật Bản, do đó việc tìm kiếm vết tích của chúng là nhiệm vụ không hề dễ dàng.

Geobukseon được coi là một biểu tượng cho lòng kiêu hãnh của người Triều Tiên, bởi chính loại chiến thuyền này đã giúp họ chống lại cuộc xâm lăng của người Nhật, điều này khiến cho nó nhận được sự quan tâm của cả công chúng và giới học giả. Do vậy, nếu có bất cứ khả năng nào về việc tìm thấy di tích của loại tàu đắm này, thì việc tìm kiếm geobukseon sẽ là dự án quan trọng nhất, và trên hết, là nhiệm vụ khó khăn nhất đối với các nhà khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc ngày nay.

Sự hình thành của Khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc trong thập niên 1970 - 1980: Bắt đầu với cuộc khai quật tàu đắm Shinan

Khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc thực sự bắt đầu với cuộc khảo sát tàu đắm Shinan năm 1976. Do giá trị lịch sử to lớn của tàu đắm Shinan, nên dự án khảo sát này được coi là một trong những cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước quan trọng nhất trên thế giới. Đợt khảo sát thứ nhất và thứ hai được thực hiện từ 26/10 đến 01/12 năm 1976. Kết quả khảo sát đã phát hiện được xác tàu, nhiều đồ sứ và tiền xu dưới đáy biển. Sau khi hoàn thành hai đợt khảo sát này, một loạt các cuộc khai quật tổng thể đã được thực hiện cho đến năm 1984, phát hiện tổng cộng 23.502 hiện vật và 28 tấn tiền xu.

Đài kỷ niệm Cuộc khai quật tàu đắm Shinan

Cuộc khai quật tàu đắm Shinan đã cho thấy sự cần thiết của việc phải xây dựng ngành khảo cổ học dưới nước ở Hàn Quốc. Cuộc khai quật này đã nhận được sự hỗ trợ toàn diện của Hải quân Hàn Quốc với việc cung cấp thợ lặn và tàu cứu hộ trong suốt quá trình khai quật. Tổng số giờ lặn dưới đáy biển của các thợ lặn để khai quật con tàu đắm Shinan là 3.747 giờ.

Vào tháng 3/1983, những nữ thợ lặn của đảo Jeju cho biết họ đã phát hiện được một số hiện vật, trong đó có cả vòng tay bằng vàng, ở vùng bờ biển Sinchang-ri. Những tháng sau đó, nhóm khảo sát đã phát hiện được hai chiếc trâm vàng tại cùng địa điểm trên. Năm 1996, địa điểm Shinchang-ri tiếp tục được khảo sát và phát hiện được những đồ gốm men ngọc có niên đại Nam Tống. Những đồ gốm này có khắc những chữ Hán như Hà tân di phạm hay Kim ngọc mãn đường, là đặc trưng của đồ gốm sản xuất tại lò Long Tuyền thời Nam Tống. Tuy nhiên, không có xác tàu nào được phát hiện được xác tàu nào. Từ năm 1981 - 1987, những đợt khảo sát ngắn ngày đã được triển khai dọc bờ biển Tean. Đáng chú ý là, khoảng 100 hiện vật trong đó có 32 đồ sứ men ngọc đã được tìm thấy ở vùng đảo Jukdo, thuộc Boryeong. Trong số này có 1 chiếc bát in chữ Hán: Kỷ Tỵ (năm 1269 hoặc 1329) cung cấp tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đồ gốm sứ thời Goryeo.

Việc phát hiện và khai quật tàu đắm Wando cũng rất đáng chú ý. Con tàu được phát hiện khi hai ngư dân ở làng Eodu-ri, đảo Joyakdo (Wando) thông báo với nhà chức trách rằng họ phát hiện được bốn đồ gốm men ngọc. Cuộc khảo sát sơ bộ sau đó đã phát hiện thêm khoảng 1000 đồ gốm men ngọc nằm dưới lớp bùn ở đáy biển. Sau đó, trong năm 1983 - 1984, địa điểm này đã được khai quật hai lần. Kết quả khai quật đã làm xuất lộ xác tàu, cùng với đó là khoảng 30.000 đồ gốm. Đây là con tàu đắm duy nhất thuộc triều đại Goryeo được khai quật tính đến năm 1995.

Thiết lập nền tảng của Khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc trong thập niên 1990: Phát hiện những con tàu đắm vùng đầm lầy ven biển

Cuộc khai quật tàu đắm Shinan đã báo hiệu về một sự khởi đầu tươi sáng cho khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc; nhưng đáng tiếc là, khi cuộc khai quật tàu Shinan và Wando kết thúc thì không có cuộc khai quật nào được thực hiện trong vòng 10 năm sau đó. Trong giai đoạn này, việc triển khai nghiên cứu học thuật là không thể bởi sự thiếu vắng chuyên gia, và bởi sự phụ thuộc có phần thái quá của nhóm khảo sát vào Lực lượng Trục vớt Tàu đắm (Ship Salvage Unit - SSU) của Hải quân Hàn Quốc. Tuy vậy, khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc không hoàn toàn bị ngưng trệ. Vào năm 1994, Bảo tàng Biển Quốc gia đã được thành lập ở Mokpo. Với việc thành lập bảo tàng này, một hệ thống bảo quản các con tàu cổ trong khi triển khai việc bảo quản tàu đắm Shinan và Wando đã được thiết lập.

Ở Hàn Quốc, tàu đắm thường được phát hiện ở các bãi lầy ven biển hoặc dưới đáy biển. Nhìn chung, xác tàu đắm thường bị sập vỡ thành từng mảng, một số bị cuốn trôi bởi sóng biển và dòng chảy, một số bị vùi lấp dưới bãi bùn. Rất nhiều xác tàu trong bãi lầy được tìm thấy bởi những người đi thu nhặt nhuyễn thể.

Khai quật tàu đắm Jindo

Tương tự như khai quật trên mặt đất, các công cụ như xẻng, bay, bàn chải là những dụng cụ chủ yếu sử dụng khai quật tàu đắm ở vùng đầm lầy. Trong năm 1991 - 1992, con tàu nằm trong đầm lầy đầu tiên được khai quật ở Hàn Quốc là Jindo. Con tàu này được đóng từ thân cây long não cỡ lớn. Đây là loài cây sinh trưởng ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản; nhưng loại cây dùng để đóng những tàu lớn như Jindo thì thường chỉ có ở vùng sông Dương Tử. Trên xác tàu còn tìm thấy những lỗ nhỏ gọi là Bảo thọ khổng (baoshoukong), trong đó được đặt những tiền xu hoặc gương đồng để cầu nguyện cho một chuyến đi bình an. Do nghi thức này thường được thực hiện phổ biến ở vùng Phúc Kiến, nên một số học giả cho rằng con tàu này được đóng ở Trung Hoa. Tuy nhiên, rất hiếm tàu đóng bằng thân cây ở Trung Hoa trong thế kỉ 13 - 14; thay vào đó, loại tàu tương tự như Jindo được đóng ở Nhật Bản, cho thấy khả năng Jindo là một tàu có xuất xứ Nhật Bản. Đáng chú ý là, người Nhật thường hay tiến hành những cuộc đột kích Cao Ly trong thời kỳ này. Nếu đó là một tàu Nhật, thì nhiều khả năng là của một toán cướp biển. Bởi đặc tính dễ cong vênh của loại gỗ này, cho nên hiện nay, xác tàu Jindo - vốn được khai quật cách đây hơn 20 năm - vẫn đang được tiếp tục bảo quản tại Viện Di sản biển.

Ba năm sau khai quật tàu Jindo, đến lượt tàu Dalido được khai quật tại vùng đầm lầy ven biển đảo Dalido thuộc Mokpo. Con tàu này được phát hiện vào năm 1989 bởi một người dân địa phương trong khi đi bắt mực. Sau đó, vào năm 1994, một người dân khác đã đào được một thìa đồng, hai đĩa và số lượng lớn mảnh gốm sứ, và đã báo với chính quyền địa phương. Hè năm 1995, cuộc khai quật lần thứ nhất đã được thực hiện. Để ngăn sự thâm nhập của nước biển, người ta đã đào rãnh xung quanh khu vực thân tàu; sau đó làm đường tạm để nhà khảo cổ di chuyển; tiếp đó là dựng giàn giáo để chụp ảnh; cuối cùng là quây lưới xung quanh thân tàu để đảm bảo không bị thất thoát di tích và di vật.

Khai quật tàu đắm Dalido

Phần còn lại của con tàu có kích thước dài 10,5m, rộng 2,72m và chứa một vài hiện vật. Dựa trên niên đại C14 và nghiên cứu các di vật đi kèm, con tàu này được định niên đại khoảng thế kỷ 13 - 14.

Nhìn chung, khi khai quật tàu đắm ở vùng đầm lầy ven biển, nhà khảo cổ phải đối mặt với sự thúc ép ghê gớm về thời gian, bởi việc khai quật chỉ có thể được thực hiện khi thủy triều xuống thấp. Đối với trường hợp tàu Dalido, nhà khảo cổ chỉ có thể làm việc hai giờ mỗi ngày tại công trường.

Bước nhảy vọt những năm 2000: Sự ra đời một hệ thống khảo sát độc lập

Từ năm 2000 trở đi, khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc đã đạt những bước tiến lớn trên cả phương diện chất và lượng. Đến lúc này, nhóm nghiên cứu có thể thực hiện những đợt khai quật dưới nước một cách thường xuyên mà không cần đến sự hỗ trợ của lực lượng hải quân. Sự phát triển này bắt nguồn từ những nỗ lực của Bảo tàng Biển Quốc gia. Bảo tàng đã tự trang bị máy sonar quét sườn và máy đo trắc diện đáy biển để phục vụ cho các cuộc khai quật dưới nước. Bảo tàng cũng đã triển khai một chương trình huấn luyện phương pháp lặn cho các nhà khảo cổ với mục tiêu có thể tự tiến hành khai quật dưới nước. Cho dù những cuộc khảo sát ban đầu của bảo tàng vẫn phải mượn tàu đánh cá, nhưng lúc này các nhà khảo cổ có thể thực hiện những cuộc khảo sát chủ động và chuyên sâu hơn, ví dụ như tại đảo Kkamakseom ở Gochang năm 1999 và đảo Sisando ở Yeonggwang năm 2000.

Năm 2002, địa điểm Biando ở Gunsan đã được khai quật, sau khi một ngư dân thông báo phát hiện được 243 đồ sứ men ngọc trong khi lặn tìm ốc xà cừ. Bảo tàng đã thực hiện 5 cuộc khảo sát liên tiếp trong năm 2002 - 2003. Cho dù không phát hiện được xác tàu đắm, các nhà khảo cổ đã phát hiện được hai mái chèo và khoảng 2900 đồ gốm sứ men ngọc.

Ở Hàn Quốc, các cuộc khai quật khảo cổ dưới nước được thực hiện liên tục hàng năm từ năm 2003. Sau khi cuộc khai quật địa điểm Biando kết thúc, bảo tàng lại tiếp tục khai quật tàu đắm Sipidongpado thuộc vùng biển Gunsan. Tàu Sipidongpado có độ dài 7m, rộng 2,5m, chở theo đồ gốm men ngọc thời Goryeo. Cuộc khai quật đã thu được 8.100 đồ gốm sản xuất tại lò Sindeok-ri thuộc Haenam, niên đại thế kỷ 12.

Cùng với các cuộc khai quật dưới đáy biển, những cuộc khai quật ở vùng đầm lầy ven biển cũng được triển khai. Năm 1995, tức là 10 năm sau cuộc khai quật Dalido, một tàu đắm khác đã được phát hiện tại vùng đầm lầy ven biển đảo Anjwado, Shinan. Đến năm 2005, cuộc khai quật tàu đắm Anjwa đã được thực hiện. Ngoài 2 chiếc cốc và chiếc bát men ngọc sản xuất tại Sadan-ri ở Gangjin niên đại thế kỷ 14, các nhà khảo cổ còn tìm được một số đồ sành, đá mài và nhiều thanh gỗ.

Khai quật tàu đắm Anjwa

Cũng trong năm 2005, một cuộc khai quật tương đối đặc biệt đã được triển khai ở đảo Wonsando, phát hiện rất nhiều mảnh gốm men ngọc nằm tập trung ở bãi bùn lầy ven biển. Những mảnh gốm này thuộc các loại hình như đĩa, lư hương, gối, ghế và ấm nước. Điều đáng ngạc nhiên là ngoại trừ 1 chiếc đĩa duy nhất còn nguyên vẹn, còn lại tất cả đều bị vỡ thành từng mảnh. Thường thì hiện vật trong các cuộc khai quật dưới nước đều khá nguyên vẹn. Do đó, lí do những đồ gốm ở đây đều bị vỡ nát vẫn còn là một ẩn số. Những mảnh gốm này là loại gốm men ngọc Goryeo vào loại cao cấp nhất, tương tự những đồ được làm cho hoàng gia sử dụng. Do đó, chúng được cho là được sản xuất ở Giangjin vào thế kỷ 13 và được đưa lên tàu để chở tới Gaegyeong.

Năm 2006, đã phát hiện tàu đắm Daebudo ở vùng biển Ansan. Đây là con tàu có cấu trúc tương tự các tàu Goryeo đã phát hiện ở Hàn Quốc.

Sự tiến bộ của khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc

Trong những năm gần đây, khảo cổ học dưới nước ở Hàn Quốc đã thành công trong việc thành lập một chỗ đứng vững chắc làm nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Một bộ phận nghiên cứu khảo cổ học dưới nước đã chính thức được thành lập vào tháng 3 năm 2007 tại Bảo tàng Biển Quốc gia; và cũng trong tháng này, tàu Sea Muse, con tàu khảo sát dưới nước đầu tiên của Hàn Quốc, đã được đưa vào sử dụng trong chuyến khảo sát lòng hồ Geumhoho ở Haenam. Việc tàu Sea Muse được đưa vào sử dụng trong nghiên cứu khảo cổ học dưới nước đã tạo ra một sự đóng góp đáng kể của ngành, với những phát hiện tàu đắm Mado 1, Mado 3, Mado 4 và tàu đắm Yeongheungdo.

Đầu tư nâng cấp trang thiết bị lặn biển

Tháng 5/2007, tàu đắm Tean được phát hiện ở gần đảo Daeseom, đã mở ra một chương mới cho khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc. Kết quả khảo sát đã cho thấy có rất nhiều đồ gốm men ngọc nằm dưới đáy biển ở độ sâu 12m. Cuộc khai quật sau đó vào tháng 7 đã thu được 25.000 đồ gốm sứ men ngọc và cả thân tàu. Tàu Tean là con tàu chuyên chở đồ gốm của triều đại Goryeo.

Quan trọng hơn cả là sự thừa nhận của công chúng về tầm quan trọng của di sản văn hóa dưới nước chính là thành quả quan trọng nhất của cuộc khai quật này, đặc biệt là khi sự quan tâm của xã hội đối với khảo cổ học dưới nước đang giảm dần kể từ sau cuộc khai quật tàu đắm Shinan. Trong hoàn cảnh đó, cuộc khai quật tàu đắm Tean đã một lần nữa thu hút sự chú ý của công chúng.

Cuộc khai quật địa điểm Yamido ở Gunsan cũng là một thành quả quan trọng của khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc giai đoạn này. Địa điểm này được biết tới sau khi bắt giữ những kẻ săn tìm cổ vật. Hai cuộc khai quật năm 2006 và 2007 đã phát hiện được rất nhiều đồ sứ men ngọc có niên đại thế kỷ 12.

Hai xà lan cỡ lớn đã được đóng để phục vụ cho việc khảo sát khảo cổ học dưới nước. Hai xà lan này có kích thước 14 x 16m, cho phép nhà khảo cổ thực hiện được nhiều việc như hút bùn, lặn, thu thập hiện vật. Các trang thiết bị cho việc hút bùn cũng được đầu tư nâng cấp và tối ưu hóa phù hợp với điều kiện môi trường biển của Hàn Quốc.

Các phương pháp khai quật khảo cổ học dưới nước được tích lũy qua các cuộc khai quật tàu đắm Tean và các địa điểm ở đảo Yamido chính là cơ sở cho việc khai quật tàu đắm Mado 1, 2 , 3 vào năm 2009. Không giống với các con tàu đắm Goryeo đã được khai quật trước đó vốn chỉ là tàu chở gốm sứ, tàu đắm Mado chứa rất nhiều loại hàng hóa khác nhau như ngũ cốc, hải sản ướp muối, và quan trọng hơn là có cả những thẻ bài bằng gỗ ghi rõ thông tin về người gửi hàng và người nhận hàng. Phát hiện này đã cung cấp thông tin về nhiều phương diện của xã hội giai đoạn Goryeo và là động lực cho sự phát triển học thuật trong tương lại của khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc.

Khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc hiện nay

Một bước tiến lớn trong lĩnh vực khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc đó là việc sản xuất và hạ thủy con tàu Nurian vào năm 2013. Tàu Nurian, với tải trọng 290 tấn, có khả năng chở một đoàn nghiên cứu khoảng 20 người thực hiện khảo sát trên biển khoảng 20 ngày, và cho phép 8 thợ lặn lặn một lần cùng lúc. Ngoài ra, con tàu này còn được trang bị rất nhiều thiết bị hiện đại phục vụ việc khảo sát và khai quật dưới nước.

Tàu Nurian được sử dụng lần đầu tiên trong đợt khai quật tàu đắm Yeongheungdo ở Incheon. Địa điểm này được phát hiện từ 2002, khảo sát vào năm 2010. Tuy nhiên lúc đó, rất khó để thực hiện khai quật với tàu Sea Muse, do vậy phải đợi tới khi tàu Nurian được hạ thủy thì mới có thể khai quật. Kết quả khai quật cho thấy tàu Yeongheungdo có niên đại thế kỷ thứ 8, thuộc giai đoạn Silla Thống nhất. Có thể nói đây là con tàu có niên đại sớm nhất Hàn Quốc được phát hiện bởi khảo cổ học dưới nước cho đến nay.

Tàu Sea Muse (trái) và tàu Nurian (phải)

Sau cuộc khai quật tàu đắm Yeongheungdo, tàu Nurian tiếp tục được sử dụng tại vùng biển Jindo, nơi diễn ra trận đánh Myeongnyang trong giai đoạn chiến tranh Triều - Nhật cuối thế kỷ 16, và đã phát hiện được nhiều hiện vật có giá trị, ví dụ như đồ gốm thời Tiền Tam Quốc, đồ gốm thời Goryeo, lư hương hình kỳ lân, hay súng thần công...

Cũng trong thời kỳ này, Bảo tàng Biển quốc gia đã được tái cơ cấu và phát triển thành Viện Nghiên cứu Di sản văn hóa Biển Quốc gia. Năm 2015, Viện đã tiến ahnfh khai quật tàu đắm Mado 4, con tàu đầu tiên của thời Joseon được phát hiện. Bên cạnh đó, tàu Daebudo 2 cũng được khai quật. Đây là con tàu khá đặc biệt của thời kỳ Goryeo, bởi nó có cấu trúc khác biệt với các tàu đắm cùng thời đã biết, với kích thước nhỏ và hẹp hơn, nhưng lại được thiết kế cả khu vực sinh hoạt cho thủy thủ đoàn.

Ngoại trừ tàu đắm Wando, thì cho tới nay, tất cả các cuộc khảo sát và khai quật khảo cổ học dưới nước đều được thực hiện ở vùng Biển Tây của Hàn Quốc. Trong khi đó, vùng Biển Nam là nơi có những tuyến đường quan trọng, và là nơi diễn ra trận đánh khốc liệt trong cuộc chiến tranh Nhật - Triều thế kỷ 16, gợi mở khả năng có nhiều di tích và di vật nằm dưới đáy biển của vùng biển này. Do đó, hy vọng rằng những phát hiện trong tương lai tại vùng Biển Nam này sẽ là chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của khảo cổ học dưới nước Hàn Quốc.

Trương Đắc Chiến (lược dịch)

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ: