Thứ Bảy, 17/08/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

22/08/2018 09:51 707
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Khi nghiên cứu quá trình hình thành văn hóa Óc Eo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định: cùng với nhóm di tích đồng bằng sông Cửu Long và nhóm di tích lưu vực sông Vàm Cỏ ở miền Tây Nam Bộ, nhóm di tích ven biển Cần Giờ - Thị Vải chính là một tuyến quan trọng tiến tới văn hóa Óc Eo ở miền Đông Nam Bộ. Qua nghiên cứu những di tích, di vật thu được tại các địa điểm Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, một số nhà nghiên cứu như Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu đã nhận thấy có yếu tố Óc Eo trong nhóm di tích này, và từ đó đi đến nhận định rằng có thể tìm thấy một tuyến phát triển lên Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, cũng như chính các nhà nghiên cứu này khẳng định, các yếu tố Óc Eo đó mới chỉ là "phảng phất", "sơ khai", và về mặt niên đại thì từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới các di tích Óc Eo thực thụ (ví dụ như Giồng Am, niên đại thế kỉ 4 - 5 AD) vẫn còn cả một khoảng trống vài trăm năm. Do đó, điều quan trọng là phải tìm được một gạch nối từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới Óc Eo. Trong bối cảnh đó, việc phát hiện và khai quật di tích Giồng Lớn trên đảo Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) có ý nghĩa hết sức to lớn, bởi nó cung cấp cho chúng ta một mắt xích kết nối từ Tiền Óc Eo lên tới Óc Eo.

Khi nghiên cứu quá trình hình thành văn hóa Óc Eo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận định: cùng với nhóm di tích đồng bằng sông Cửu Long và nhóm di tích lưu vực sông Vàm Cỏ ở miền Tây Nam Bộ, nhóm di tích ven biển Cần Giờ - Thị Vải chính là một tuyến quan trọng tiến tới văn hóa Óc Eo ở miền Đông Nam Bộ. Qua nghiên cứu những di tích, di vật thu được tại các địa điểm Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, một số nhà nghiên cứu như Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu đã nhận thấy có yếu tố Óc Eo trong nhóm di tích này, và từ đó đi đến nhận định rằng có thể tìm thấy một tuyến phát triển lên Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, cũng như chính các nhà nghiên cứu này khẳng định, các yếu tố Óc Eo đó mới chỉ là "phảng phất", "sơ khai", và về mặt niên đại thì từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới các di tích Óc Eo thực thụ (ví dụ như Giồng Am, niên đại thế kỉ 4 - 5 AD) vẫn còn cả một khoảng trống vài trăm năm. Do đó, điều quan trọng là phải tìm được một gạch nối từ Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt lên tới Óc Eo. Trong bối cảnh đó, việc phát hiện và khai quật di tích Giồng Lớn trên đảo Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) có ý nghĩa hết sức to lớn, bởi nó cung cấp cho chúng ta một mắt xích kết nối từ Tiền Óc Eo lên tới Óc Eo.

Di tích Giồng Lớn thuộc thôn 3 Rạch Già, xã đảo Long Sơn, thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Di tích này được phát hiện năm 2002, khai quật hai lần vào năm 2003 và 2005. Trong phạm vi 536m2 của 7 hố khai quật đã tìm được 80 mộ táng, với hai loại hình mộ đất và mộ nồi. Thông qua việc nghiên cứu sâu kĩ các mộ táng này, các nhà khảo cổ đã phân 72 mộ đất và 8 mộ nồi ra thành các nhóm khác nhau, từ đó nhận diện được niên đại và các giai đoạn phát triển của di tích. Chính từ kết quả nghiên cứu này đã khẳng định Giồng Lớn là một gạch nối từ nhóm di tích Cần Giờ lên tới văn hóa Óc Eo. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu cụ thể từng nhóm mộ táng của di tích quan trọng này:

1.Mộ đất

Đây là loại hình chủ yếu với 72 mộ, chiếm 90% tổng số mộ táng và 99,5% tổng số di vật tùy táng. Mộ đất Giồng Lớn thường có chiều dài trên dưới 2,0 m, rộng 0,5 – 0,8 m. Hướng mộ không thống nhất, phần lớn nằm theo trục bắc – nam hoặc đông – tây, một số không rõ hướng mộ.

Dựa trên thực tế phân bố các cụm hiện vật trong hố khai quật cũng như so sánh với một số địa điểm khác như Gò Ô Chùa, Giồng Cá Vồ (mộ đất), Prohear (Campuchia) hay Noen U-Loke (Thái Lan), có thể thấy đồ gốm ở đây thường được đặt ở phía trên đầu, cạnh hông hoặc phía chân của tử thi, còn những đồ tùy táng quý hiếm khác như mặt nạ, hạt chuỗi, khuyên tai hay vòng tay thường được đặt trực tiếp lên người chết. Hiện tượng nhiều đồ gốm và một số đồ tùy táng khác bị đập vỡ hoặc bẻ cong, làm hỏng trước khi chôn cho thấy ở đây có phong tục “giết chết hiện vật” trước khi mai táng theo chủ nhân. Tuy chưa làm các phân tích về thành phần chất hữu cơ cặn lắng trên đồ gốm Giồng Lớn, nhưng qua tư liệu ở Gò Ô Chùa, chúng ta có thể phán đoán rằng những bát bồng hoặc nồi đặt ở phía trên đầu của tử thi thường chứa trong đó đồ ăn thức uống, với ý nghĩa là bữa ăn cuối của người chết.

Mộ táng xuất lộ trong hố khai quật Giồng Lớn

Dựa vào hướng mộ và di vật chôn theo, chúng tôi chia 72 mộ đất ra thành ba nhóm là: nhóm 1, nhóm 2 và nhóm 3. Dưới đây là đặc điểm cụ thể của từng nhóm:

1.1. Nhóm mộ 1

Nhóm này là những mộ có hướng bắc – nam hoặc gần bắc - nam, độ sâu từ 0,8m đến 1,45m, tập trung trong khoảng 1,1 – 1,2m, cá biệt có mộ sâu tới 1,8m. Nhóm 1 có 16 mộ, chiếm 22,23% tổng số mộ đất, phân bố rải rác ở tất cả các hố khai quật, nhưng có xu hướng tập trung nhiều hơn ở phía đông nam của khu mộ địa.

Đồ tùy táng trong các mộ nhóm 1 có số lượng ít hoặc trung bình. Hiện vật thu được trong 16 mộ nhóm 1 là 468 tiêu bản, chiếm khoảng 20,57% tổng số đồ tùy táng của loại hình mộ đất. Về chất liệu, đồ tùy táng trong nhóm này chủ yếu là đồ gốm, đồ đá và thủy tinh, đồ đồng và đồ sắt tuy cũng có mặt nhưng khá hiếm, đồ vàng hoàn toàn vắng bóng.

Dưới đây là một số mộ đáng chú ý:

- Mộ 05.GL.H1.M7: được phát hiện trong hố 1 năm 2005, ở độ sâu 1,3m. Đồ tùy táng trong mộ có 8 nồi, 2 bát bồng, 1 chân đế và 1 lục lạc bằng đồng.

Đồ tùy táng trong mộ 05.GL.H1.M7

- Mộ 05.GL.H1.M8: cũng được phát hiện trong hố 1 năm 2005, ở độ sâu 1,1m, nằm song với mộ M7, cách khoảng 0,5m về phía đông. Đây là mộ nhóm 1 duy nhất chôn theo cả đồ gốm, đá, thủy tinh và sắt. Đồ tùy táng gồm có 5 nồi gốm, 2 bát bồng, 1 hòn cuội biển, 8 hạt chuỗi thủy tinh, 1 dao sắt và 1 đục sắt.

Có thể nói đây là hai trong những mộ giàu nhất thuộc nhóm 1.

Dựa trên tổng thể đồ tùy táng, chúng tôi cho rằng những mộ nhóm 1 thuộc giai đoạn sớm, nằm trong khoảng thế kỉ 3 - 2 BC.

1.2. Nhóm mộ 2

Nhóm này gồm có 31 mộ (chiếm 43,05% tổng số mộ đất), là những mộ có hướng đông - tây hoặc gần đông - tây, độ sâu từ 0,8m đến 1,6m, tập trung trong khoảng 1,2 – 1,3m, cá biệt có mộ sâu tới 1,9m. Mộ nhóm 2 có mặt trong tất cả các hố khai quật, nhưng có xu hướng tập trung nhiều hơn về phía tây bắc của khu mộ táng.

Đồ tùy táng trong các mộ nhóm 2 có số lượng khá lớn, với 1348 tiêu bản, chiếm tới 59,26% tổng số đồ tùy táng của loại hình mộ đất. Ngoài các loại chất liệu như đã thấy ở nhóm mộ 1, ở nhóm mộ này xuất hiện những đồ tùy táng bằng vàng.

Có tới 16 mộ nhóm 2 chôn theo đồ kim loại, trong đó 1 mộ chôn theo đồ đồng, 10 mộ chôn theo đồ sắt và 10 mộ chôn theo đồ vàng. Số đồ đồng và đồ sắt trong mộ nhóm 2 là 21, chiếm tới 80,76 % tổng số đồ kim loại (không kể đồ vàng) ở Giồng Lớn. Loại hình đồ sắt cũng phong phú hơn, ngoài dao và đục còn có kiếm, kiếm ngắn và giáo. Đồ đồng tuy chỉ có 1 tiêu bản nhưng cũng rất đáng chú ý, bởi đó là 1 đồng tiền Ngũ Thù - loại hiện vật có giá trị chỉ thị niên đại. Đồ vàng chôn trong 10 mộ với 202 tiêu bản, với loại hình khá phong phú như hạt chuỗi, khuyên tai, lá vàng, sợi vàng, mặt nạ và mô hình dương vật.

Ngoài 8 mộ chỉ chôn theo đồ gốm (trong đó 2 mộ là mảnh gốm không thể phục dựng), các mộ còn lại đều chôn theo từ hai loại chất liệu trở lên. Dưới đây là một số mộ đáng chú ý:

- Mộ 03.GL.H3.M2: là một trong những mộ nhóm 2 tiêu biểu nhất. Mộ phát hiện trong hố 3 năm 2003, ở độ sâu 1,0m. Mộ này chôn theo đầy đủ các loại đồ gốm, đá, thủy tinh, đồng, sắt và vàng. Đồ tùy táng trong mộ có 3 nồi, 1 vò, 1 bát bồng, 1 bình con tiện, 1 nắp trang trí hình chim, 1 trụ gốm, 1 chân đế, 2 hòn cuội biển, 2 vòng ống, 9 hạt chuỗi mã não, 23 hạt chuỗi thủy tinh, 1 đồng tiền Ngũ Thù, 1 kiếm sắt, 1 dao sắt, 2 lá vàng và 1 mặt nạ vàng. Có thể coi đây là một trong những mộ giàu có nhất ở Giồng Lớn, chủ nhân có thể là nam giới và có địa vị rất cao trong cộng đồng.

Đồ tùy táng trong mộ 03.GL.H3.M2

- Mộ 03.GL.H3.M10: cũng được phát hiện trong hố 3 năm 2003 ở độ sâu 1,2m và nằm cách M2 khoảng 3m về phía tây. Mộ được chôn theo 1 bình cổ cao vai gãy, 5 hạt chuỗi mã não, 79 hạt chuỗi thủy tinh, 1 mũi giáo và 1 mặt nạ vàng. Sự có mặt của mũi giáo trong M10 cho thấy chủ nhân của nó thể là nam giới, giống với trường hợp M2.

Đồ tùy táng trong mộ 03.GL.H3.M10

- Mộ 05.GL.H1.M1: phát hiện ở độ sâu 0,8m trong hố 1 năm 2005. đồ tùy táng trong mộ gồm có 1 nồi, 2 bát bồng, 1 bình con tiện, 1 hạt chuỗi mã não, 1 đục sắt, 1 dao sắt, 2 khuyên tai vàng và 1 mặt nạ vàng.

- Mộ 03.GL.H2.M12: đây cũng là một trong những mộ giàu có nhất của di tích, phát hiện ở độ sâu 1,0m trong hố khai quật 2 năm 2003. Đồ tùy táng gồm có 5 nồi, 5 bát bồng, 1 bình con tiện, 8 hạt chuỗi đá, 384 hạt chuỗi thủy tinh và 90 hạt chuỗi vàng.

- Mộ 03.GL.H4.M1: mộ này được phát hiện trong hố khai quật 4 năm 2003, ở độ sâu 1,3m. Đồ tùy táng trong mộ gồm có 1 nồi vai gã, 1 bát bồng, 4 chiếc khuyên tai và 86 hạt chuỗi bằng vàng. Điểm đáng chú ý của mộ này là tuy có ít đồ tùy táng nhưng lại có tới 4 chiếc khuyên tai bằng vàng kiểu vòng tròn có khe hở, trên thân có các vòng ren. Đây là kiểu khuyên tai có diện phân bố rộng, từ Châu Âu tới Đông Nam Á, tuy nhiên cho đến nay mới chỉ có 2 mộ chôn theo 4 khuyên tai, đó là mộ số 7 năm 2002 ở Lai Nghi và mộ 03.GL.H4.M1.

Dựa trên sự khác biệt về hướng mộ cũng như sự xuất hiện những loại hình đồ tùy táng mới lạ, chúng tôi cho rằng mộ nhóm 2 thuộc giai đoạn muộn, nằm trong khoảng thế kỉ 1 BC đến thế kỉ 1-2 AD.

1.3. Nhóm mộ 3

Nhóm này có 25 mộ (34,72% tổng số mộ đất), không xác định được nằm theo trục nào. Có thể đây là những mộ nghèo, chỉ chôn theo một vài đồ tùy táng, hoặc cũng có khả năng đã bị cắt phá bởi hoạt động của người thời sau nên không thể nhận rõ được hướng mộ. Nhóm mộ này có mặt trong cả 7 hố khai quật, độ sâu xuất lộ từ 0,8 - 1,45m, cá biệt có mộ sâu 1,8m.

Đồ tùy táng trong mộ nhóm 3 có 459 tiêu bản, chiếm khoảng 20,17% tổng số đồ tùy táng của loại hình mộ đất. Về mặt chất liệu, cơ bản đồ tùy táng trong mộ nhóm 3 giống với mộ nhóm 1, chỉ khác là không có đồ đồng.

Nhìn chung, dựa trên di vật tùy táng, có thể thấy đa số mộ nhóm 3 gần gũi với mộ nhóm 1.

2.Mộ nồi

Đây là loại hình táng tục thứ hai ở Giồng Lớn, với 8 mộ, chiếm 10% tổng số mộ táng và 0,5% tổng số di vật tùy táng. Mộ nồi phân bố trong 5 hố khai quật, và có xu hướng tập trung nhiều hơn ở phía đông nam của khu mộ táng. Mộ nồi Giồng Lớn đều là loại nồi nhỏ, đường kính thân từ 35 - 50 cm, cao khoảng 25 - 30 cm.

Căn cứ vào hình dáng và chất liệu của nồi táng, chúng tôi thấy mộ nồi Giồng Lớn có 2 kiểu sau:

- Mộ nồi kiểu 1: có 2 mộ, là kiểu nồi vai gãy, thân hình cầu dẹt, đáy tròn, xương gốm màu nâu vàng, pha cát thô, áo gốm màu vàng, không hoa văn.

- Mộ nồi kiểu 2: có 6 mộ, là loại nồi vai xuôi, thân hình cầu, đáy tròn, xương gốm đen, áo trắng và có văn thừng đập bên ngoài.

Mộ nồi kiểu 1

Mộ nồi kiểu 2

Trong 8 mộ nồi thì có tới 7 mộ bị ghè miệng, 4 mộ có nồi nhỏ úp lên trên làm nắp, các nồi úp cũng đều bị ghè miệng. Có 5 mộ nồi chôn theo đồ tùy táng, trong đó 4 mộ là thuộc kiểu 2. Đồ tùy táng có số lượng rất ít, với hai loại chất liệu là đồ gốm và thủy tinh. Mộ nồi kiểu 1 chỉ tìm được 3 hạt chuỗi thủy tinh bên trong mộ, nhưng cũng không loại trừ khả năng bị lẫn từ các mộ đất xung quanh. Trong khi đó, những mộ nồi kiểu 2 được chôn theo đồ gốm như nồi, bát bồng, chân đế hay bình con tiện. Những hiện vật này thường được đặt bên ngoài gần miệng nồi táng.

Dựa trên chất liệu, kiểu dáng nồi táng cũng như đồ tùy táng, chúng tôi cho rằng mộ nồi kiểu 1 có thể thuộc giai đoạn sớm hơn, gần gũi với mộ đất nhóm 1, còn mộ nồi kiểu 2 thuộc giai đoạn muộn hơn, gần gũi với mộ đất nhóm 2.

Trên đây là tư liệu về các nhóm mộ táng ở di tích Giồng Lớn. Dựa trên tư liệu về các nhóm mộ này, nhà khảo cổ đã định ra niên đại và các giai đoạn phát triển của di tích, làm cơ sở để khẳng định vị trí của Giồng Lớn trong giai đoạn chuyển tiếp từ Tiền Óc Eo lên Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ.

Trương Đắc Chiến

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Thị Hậu 1997. Di tích mộ chum miền Đông Nam Bộ - Những phát hiện mới tại Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Sử học, Viện KHXH tại TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

Vũ Quốc Hiền 2004. "Loại hình Bưng Bạc và một số vấn đề về giai đoạn Sơ kỳ Sắt ở Nam Bộ", Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, Tập 1, NXBKHXH, tr. 906 - 920.

Vũ Quốc Hiền 2008. "Vài suy nghĩ về các di tích mộ chum ở Đông Nam Bộ", Thông báo Khoa học, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, tr. 116 - 128.

Reinecke A., Laychour V., Sonetra S. 2009. The First Golden Age of Cambodia: Excavation at Prohear, Bonn, Germany.

Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền 1995. "Khai quật Giồng Cá Vồ", Khảo cổ học (2), tr. 3 - 19.

Đặng Văn Thắng, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Thị Hậu, Ngô Thế Phong, Nguyễn Kim Dung, Nguyễn Lân Cường 1998. Khảo cổ học Tiền sử và Sơ sử thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Hội thảo khoa học “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”

Hội thảo khoa học “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”

  • 20/05/2019 14:45
  • 397

Nhân dịp kỷ niệm này Quốc tế Bảo tàng 18/5/2019, sáng ngày 16 tháng 5 năm 2019, Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Những phát hiện mới về khảo cổ học thời Tiền sử tại Thái Nguyên và kinh nghiệm trong việc phát huy giá trị hiện vật khảo cổ học tại bảo tàng”.

Bài viết khác

Phát lộ nhiều hiện vật giá trị tại Di tích Chăm Phong Lệ

Phát lộ nhiều hiện vật giá trị tại Di tích Chăm Phong Lệ

  • 22/08/2018 08:15
  • 503

NDĐT - Qua hơn hai tháng khai quật tại Di tích Chăm Phong Lệ (thuộc tổ 4, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng), các nhà khảo cổ học đã phát hiện thêm rất nhiều hiện vật, di vật có giá trị. Đây là nguồn hiện vật quý giá phục vụ cho công tác nghiên cứu, trưng bày.