Chủ Nhật, 09/08/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

03/07/2020 08:46 168
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Vua Thành Thái tên là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Chiêu, con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Phan Thị Điều (Từ Minh Hoàng hậu), sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão (14/3/1879). Vua Đồng Khánh mất, triều đình Huế đã đưa Bửu Lân lên ngôi vua vào ngày 1 tháng 2 năm 1889 với niên hiệu Thành Thái, lúc mới 10 tuổi.

Vua Thành Thái là người có tư tưởng tiến bộ và chống Pháp. Vì vậy, sau 19 năm ở ngôi, dưới áp lực của Pháp, triều đình Huế lấy cớ nhà vua mắc bệnh tâm thần và buộc phải thoái vị. Sau đó, ông bị Pháp đưa đi an trí tại Bạch Dinh (villa Blanche) thuộc thành phố Vũng Tàu (Nay là tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu). Năm 1916, Ngài bị Pháp đem đi đày ở đảo Réunion (Châu Phi). Năm 1947, ông được trở về sống ở Sài Gòn cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1955 thì mất, thọ 77 tuổi.

Dưới đời vua Thành Thái có 10 Kim Bảo còn lại đến nay:

1. Kim Bảo: Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế chi bảo.

Ấn bạc mạ vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, mũi cao, sừng và râu dài, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân đứng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái:   Xứng trọng ngân thất thập cửu lượng thất tiền lục phân. (Cân nặng bạc 79 lạng 7 tiền 6 phân).

- Bên phải: Thành Thái nguyên niên tam nguyệt thập ngũ nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày 15 (rằm) tháng 3 năm Thành Thái 1, 1889).

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ Triện trong khung diềm: Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế chi bảo .

Đây là Kim Bảo mang Miếu hiệu và Thuỵ hiệu của vua Đồng Khánh,  được đúc để thờ trong Thế Miếu.

 

Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế chi bảo.

2. Kim Bảo:   Từ Dũ Bác Huệ Khang Thọ Thái Thái Hoàng Thái hậu chi bảo.

Ấn đúc bằng bạc mạ vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi ấn, 4 chân chùng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Phụng xứng trọng bát thập nhị lượng (Phụng mệnh cân nặng 82 lạng).

- Bên phải: 吉日 Thành Thái nguyên niên ngũ nguyệt cát nhật tạo. (Đúc vào ngày lành tháng 5, năm Thành Thái 1, 1889).

Mặt ấn đúc nổi 13 chữ Triện trong ô viền:   Từ Dũ Bác Huệ Khang Thọ Thái Thái Hoàng Thái hậu chi bảo .

Đây là Kim Bảo ấn thứ 4 của bà Từ Dũ do vua Thành Thái tấn tôn.

 

Từ Dũ Bác Huệ Khang Thọ Thái Thái Hoàng Thái hậu chi bảo

3. Kim Bảo: Trang ý Thuận hiếu Thái Hoàng Thái hậu chi bảo.

Ấn đúc bằng bạc mạ vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi xoáy, 4 chân chùng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Phụng xứng trọng bát thập bát lượng tứ tiền lục phân. (Phụng mệnh cân nặng 88 lạng 4 tiền 6 phân).

- Bên phải: 吉日 Thành Thái nguyên niên thập nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 10 năm Thành Thái 1, 1889).

Mặt ấn đúc nổi 10 chữ Triện trong ô viền: Trang ý Thuận hiếu Thái hoàng Thái hậu chi bảo .

Đây là Kim Bảo ấn thứ 2 của bà Vũ Thị Duyên, do vua Thành Thái (là con vua Dục Đức) tấn tôn.

 

Trang ý Thuận hiếu Thái Hoàng Thái hậu chi bảo

4. Kim Bảo:   Cung Huệ Hoàng Đế chi bảo.

Ấn bạc mạ vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, miệng ngậm ngọc, lưng cong, đuôi xoắn, lưng trơn không vây, 4 chân rồng 5 móng, tư thế đứng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: 八十五 Ngân trọng bát thập ngũ lượng nhất tiền tứ phân. (Bạc nặng 85 lạng 1 tiền 4 phân).

- Bên phải: 月吉日奉 Thành Thái tứ niên nhị nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 2 năm Thành Thái 4, 1892).

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện trong khung diềm:   Cung Huệ Hoàng Đế chi bảo .

Đây là Kim Bảo do vua Thành Thái sai đúc để truy tôn cho bố đẻ nhà vua là Dục Đức, người chỉ ở ngôi vua được 3 ngày (năm 1883).

Năm Kỷ Sửu (1889), vua Thành Thái cho lập miếu Hoàng Khảo (còn gọi là Tân Miếu) ở trong Hoàng Thành để thờ vua cha. Năm Đinh Dậu (1897) lại đổi tên miếu thành Cung Tông miếu, qua năm Kỷ Hợi (1899) vua Thành Thái lại cho xây điện Long Ân tại An Lăng để thờ.

 

Cung Huệ Hoàng Đế chi bảo

5. Kim Bảo: Hoàng thái hậu bảo.

Ấn đúc bằng bạc, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, sừng ngắn, lưng cong, đuôi cuốn, 4 chân chùng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: ... Ngân trọng… bát lượng cửu tiền cửu phân. (Bạc nặng…8 lạng 9 tiền 9 phân).

- Bên phải: 四月吉日奉 Thành Thái tứ niên tứ nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 4 năm Thành Thái 4, 1892).

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện trong ô viền dầy: Hoàng Thái hậu bảo. (Bảo của Hoàng Thái hậu) .

Hoàng Thái hậu là ngôi được tôn phong của bà Trần Thị Nga (Đoàn Thục phu nhân) là mẹ đẻ của vua Dục Đức. Bà chính là Đệ nhất phủ thiếp của Thuỵ Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y (1833-1877). Bà sinh ngày 22 tháng 4 năm Nhâm Thìn (20/5/1832) và mất ngày 5 tháng 9 năm Tân Hợi (26/10/1910), thọ 80 tuổi, được tôn thuỵ là Đoan Thục phu nhân.

Năm Nhâm Tý (1852) bà sinh ra Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau được vua Dực Tông (Tự Đức) nhận làm Dưỡng tử, đổi tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân.

Năm Quý Mùi (1883) Ưng Chân làm vua được 3 ngày thì bị phế truất. Đến đời vua Thành Thái (con thứ 7 của Dục Đức) năm Nhâm Thìn (1892) truy tôn Dực Đức là Cung Huệ Hoàng Đế. Cũng trong năm này, vua Thành Thái đã tôn phong bà nội là Hoàng Thái hậu và cho đúc Kim Bảo ấn trên đây. Đồng thời, vua Thành Thái còn cho đúc bảo Hoàng mẫu chi bảo để tôn phong cho mẹ đẻ của mình.

 

Hoàng thái hậu bảo

6. Kim Bảo: Hoàng mẫu chi bảo.

Ấn được đúc bằng bạc, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng, đầu ngẩng, miệng ngậm ngọc, lưng cong, đuôi cuộn, 4 chân chùng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: 五十八 Ngân trọng ngũ thập bát lượng lục tiền lục phân. (Bạc nặng 58 lạng 6 tiền 6 phân).

- Bên phải: 四年 月吉日奉 Thành Thái tứ niên tam nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 3 năm Thành Thái 4, 1892).

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện: Hoàng Mẫu chi bảo. (Bảo của Hoàng Mẫu) .

Đây chính là Kim Bảo do vua Thành Thái cho đúc để tấn tôn mẹ đẻ của mình là bà Phạm Thị Điều (Từ Minh Huệ Hoàng hậu). Bà là người làng Phú Lương huyện Quảng Điền (Thừa Thiên), là con gái của Phù Quốc Công Phan Đình Bình. Bà sinh ngày 27 tháng 7 năm Ất Mão (8/9/1855). Lúc xảy ra việc phế truất Dục Đức, bà được đưa đi an trí tại nhà Trấn Vũ bên trong Thành Nội. Khi vua Đồng Khánh mất, triều thần tôn lập con bà là Hoàng tử Bửu Lân (tức Thành Thái) lên ngôi, bà mới trở về sống trong cung.

Năm Nhâm Thìn (1892) vua Thành Thái cho đúc Kim Bảo ấn này và tấn tôn bà là Hiếu Minh Huệ Hoàng hậu.

Bà mất ngày 12 tháng 11 năm Bính Ngọ (27/12/1906) thọ 52 tuổi. Sau khi bà mất, vua Thành Thái còn cho đúc Kim Bảo: Từ Minh Huệ Hoàng hậu chi bảo để truy phong cho bà.

 

Hoàng mẫu chi bảo.

7. Kim Bảo:     Nghi Thiên Chương Hoàng hậu chi bảo.

Ấn đúc bằng bạc mạ vàng, 1 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, miệng ngậm ngọc, lưng cong, đuôi xoắn, 4 chân chùng thăng bằng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Trọng ngũ thập tam lượng thất tiền ngũ phân (nặng 53 lạng 7 tiền 5 phân).

- Bên phải: 月吉日奉 Thành Thái thập tam niên ngũ nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 5, năm Thành Thái 13, 1901).

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ Triện trong ô viền:     Nghi Thiên Chương Hoàng hậu chi bảo .

Đây là Kim Bảo ấn thứ 5 của bà Từ Dũ do vua Thành Thái tấn tôn cho bà ngay sau khi bà mất.

 

Nghi Thiên Chương Hoàng hậu chi bảo

8. Kim Bảo:   Cung Tông Huệ Hoàng Đế chi bảo.

Ấn bạc mạ vàng, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, mũi cao, sừng dài, lưng cong, đuôi uốn, 4 chân chùng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái:     Xứng trọng lục thập lục lượng cửu phân. (Cân nặng 66 lạng 9 phân).

- Bên phải: 月吉日奉 Thành Thái thập tam niên nhị nguyệt cát nhật phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 2 năm Thành Thái 13, 1901).

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ Triện trong khung viền rộng:   Cung Tông Huệ Hoàng Đế chi bảo.

Đây cũng là một Kim Bảo vua Thành Thái truy tôn vua Dục Đức. Ấn được đúc đúng theo Miếu hiệu và Thuỵ hiệu mà vua Thành Thái đã truy tôn cho cha mình vào năm Nhâm Thìn (1892).

 

Cung Tông Huệ Hoàng Đế chi bảo.

9. Kim Bảo: Lệ Thiên Anh Hoàng hậu chi bảo.(Ảnh 9).

Ấn đúc bằng bạc mạ vàng, một cấp hình vuông, quai hình rồng chạy, đầu ngẩng, miệng ngậm ngọc, lưng cong, đuôi dương lên, 4 chân nghiêng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: 重五十四 兩一錢 Trọng ngũ thập tứ lượng nhất tiền. (Nặng 54 lạng 1 tiền).

- Bên phải: 月吉日造 Thành Thái thập tứ niên lục nguyệt cát nhất phụng chú tạo. (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 6 năm Thành Thái 14, 1902)

Đây là Kim Bảo ấn thứ 3 của bà Vũ Thị Duyên, do vua Thành Thái (con vua Dục Đức) tấn tôn.

 

Lệ Thiên Anh Hoàng hậu chi bảo.

10. Kim Bảo: Từ Minh Huệ Hoàng hậu chi bảo.

Ấn đúc bằng bạc mạ vàng, một cấp hình vuông, quai hình rồng chạy, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi xoè 5 dải hình ngọn lửa, 4 chân nghiêng. Lưng ấn chỉ khắc 1 dòng chữ Hán bên trái: Cộng trọng ngũ thập nhị lượng nhị tiền. (Cộng nặng 52 lạng 2 tiền).

Mặt ấn đúc nổi 7 chữ Triện trong ô viền: Từ Minh Huệ Hoàng hậu chi bảo. (Bảo của Từ Minh Huệ Hoàng hậu) .

Dù không thấy khắc dòng chữ ghi thời gian đúc ấn nhưng chúng tôi cho rằng ấn được đúc năm 1906 - 1907.

 

Từ Minh Huệ Hoàng hậu chi bảo.

 

TS. Nguyễn Đình Chiến

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 637

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Đề tài trên gốm hoa nâu Đại Việt: Tinh thần thượng võ và khát vọng thái bình

Đề tài trên gốm hoa nâu Đại Việt: Tinh thần thượng võ và khát vọng thái bình

  • 24/06/2020 14:47
  • 158

Gốm hoa nâu, người Phương Tây gọi là Iron Brown Patterned, người Trung Hoa, Nhật Bản gọi là Thiết hội, xem ra chưa hoàn toàn đúng với Việt Nam, khi dòng gốm này ở ta, chủ yếu dùng que, vẽ đồ án trên phôi gốm vừa được tráng lớp men nền, sau đó, dùng màu nâu, tô theo các đồ án ấy, do vậy, vẽ nâu trên hoặc dưới men, nung nặng lửa là một biệt lệ hiếm hoi trong phức hợp gốm cổ Việt Nam. Chính kỹ thuật này đã tạo cho gốm hoa nâu có một bản sắc riêng và bản sắc ấy chỉ có trên đồ gốm thời Lý – Trần. Gốm hoa nâu thời Lý – Trần là một khái niệm kép, do trước đây, chúng ta chưa tách bạch được phong cách của hai triều đại này, nhưng, giờ đây, đã có thể làm được điều ấy và nhận ra rằng, gốm hoa nâu thời Trần chiếm tỷ lệ cao với những đề tài trang trí phong phú, nhiều cốt chuyện lý thú, thay vì hoa sen, hoa cúc phổ biến trước đó.