Thứ Hai, 21/09/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

12/05/2020 15:37 434
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn. Cả cuộc đời, Người đã cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mang lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng Người đã để lại cho toàn Đảng và toàn dân ta một di sản vô giá, đó là Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy được khắc hoạ rõ ràng và sâu sắc trong những tác phẩm, bút tích mà Người để lại, và đến nay, 05 trong số đó đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia, bao gồm: "Đường Kách mệnh"; “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù)”; “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”; “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” và “Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia thật vinh dự và tự hào là cơ quan đang gìn giữ và bảo quản 03 trong số 05 Bảo vật Quốc gia - di cảo của Người. Đây cũng là 03 Bảo vật Quốc gia thuộc về thời kỳ lịch sử cận - hiện đại trong tổng số 20 hiện vật của Bảo tàng đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia"Đường Kách mệnh"; “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù)” và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến".

1. "Đường Kách mệnh" - Là tác phẩm tập hợp các bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1925 - 1927, được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và xuất bản thành sách.

 

Trang bìa tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc 

 

Trang 1 tác phẩm “Đường Kách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

Với cách viết súc tích, ngắn gọn, dễ hiểu, "Đường Kách mệnh" đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lý luận cách mạng, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của cách mạng Việt Nam và trở thành cuốn “cẩm nang” gối đầu giường của thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Theo chân lớp học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc từ Quảng Châu về nước hoạt động, những bản in Đường Kách mệnh đầu tiên đó đã được bí mật chuyển về nước, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, tạo lập các tiền đề tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930.

Hàm chứa giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, tác phẩm được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, kim chỉ nam cho đường lối cách mạng Việt Nam. Cuốn Đường Kách mệnh” hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia là 1 trong số ít những bản in đầu tiên - năm 1927, được công nhận Bảo vật Quốc gia đợt I, năm 2012.

Cuốn sách gồm 100 trang, in trên giấy nến bằng kỹ thuật in Litô, với kích thước 22×15cm, trang bìa lót có kích thước 15×20cm đã ngả màu vàng. Đây là hiện vật độc nhất vô nhị kèm theo một bản lý lịch hiện vật chứa đựng một câu chuyện lý thú về hành trình của cuốn sách. Đó là một tờ giấy rời (tờ trình) viết chữ Nôm bằng mực son kể việc bắt được cuốn sách với nội dung như sau:

Tên con là Phó lý Nguyễn Văn Tôn, xã Hạ Trường, xin nộp quan huyện Thanh Hà quyển sách này. Con xin làm đơn trình sau. Bảo Đại năm thứ 5, ngày 29 tháng Hai”.

Trên tờ giấy đó còn có chữ ký của Phó lý Nguyễn Văn Tôn, chữ “Nhất” và chữ “Phụng đệ” cùng với dấu của Tri huyện Thanh Hà.

Tờ trình của Phó lý xã Hạ Trường đã xác nhận một điều quan trọng là ngày 29 tháng Hai, Bảo Đại năm thứ 5, tức là ngày 28/3/1930, hắn đã bắt được cuốn sách “cấm” tại nơi cư trú nộp “tang vật” kèm theo tờ trình lên Tri huyện Thanh Hà đã được viên quan cấp trên xác nhận (dấu của huyện Thanh Hà). Huyện Thanh Hà, Hải Dương là quê hương của đồng chí Nguyễn Lương Bằng - người được Nguyễn Ái Quốc giao đảm nhận đường dây giao thông liên lạc giữa Tổng bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên (ở Quảng Châu) với trong nước qua tuyến đường biển Quảng Châu - Hải Phòng. Ta có thể hình dung hành trình cuốn sách đó như sau: Cuốn sách được Nguyễn Lương Bằng dấu trên những con tàu chạy tuyến đường Quảng Châu - Hải Phòng, đưa về quê ông ở Hải Dương, tuy nhiên lại bị một ông lý trưởng bắt được và làm một tờ trình gửi lên tri huyện Thanh Hà. Điều thú vị là từ Hải Dương, cuốn sách được đưa vào hồ sơ sách cấm và được đưa về tòa án tối cao của thực dân Pháp ở Hà Nội lưu giữ. Sau ngày ta tiếp quản thủ đô Hà Nội (1954), cụ Nguyễn Văn Hoan - một lão thành cách mạng làm việc ở tòa án tối cao, trong quá trình sắp xếp lại tư liệu đã phát hiện ra cuốn Đường Kách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, cụ đã chuyển cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

2. "Nhật ký trong tù" (Ngục trung nhật ký)là tập nhật ký bằng thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ, đầy ải qua các nhà tù của 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943.

Trang bìa cuốn “Nhật ký trong tù” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

Xuyên suốt tập nhật ký gồm 133 bài thơ chữ Hán (trong đó có 126 bài theo thể tứ tuyệt của thơ Đường) là hình ảnh người tù Hồ Chí Minh tràn đầy tinh thần yêu nước, khí phách lạc quan, tấm lòng nhân ái bao la. "Nhật ký trong tù" giúp chúng ta hình dung được thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của Người, tầm vóc trí tuệ của một chân dung vĩ đại, với khát vọng cao đẹp nhất là "Độc lập cho dân tộc và Tự do cho con người".

Được lưu giữ cẩn trọng tại Kho Đặc biệt của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, cuốn "Nhật ký trong tù" có kích thước 9,5cm x 12,5cm, giấy bản màu vàng, gồm 79 trang (kể cả trang bìa), mang ký hiệu BTCM 6698/Gy.5057.

Tháng 9 -1955, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một cuộc triển lãm về cải cách ruộng đất đã được tổ chức tại phố Bích Câu, Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến duyệt triển lãm. Sau đó, Bác đã trao lại cho Ban Tổ chức triển lãm một cuốn sổ tay gáy bọc vải đen, bìa màu xanh đã nhạt và một tấm thẻ đại biểu (phù hiệu dự Đại hội các tổ chức cách mạng ở hải ngoại của Đồng minh hội, họp tại Liễu Châu tháng 3-1944), trên có ghi tên Hồ Chí Minh bằng chữ Hán. Cuốn sổ và tấm phù hiệu của Bác đã được Ban tổ chức kịp thời đem ra trưng bày ngay trong Triển lãm cải cách ruộng đất. Và người có vinh dự được tiếp nhận hiện vật này về Bảo tàng là đồng chí Trần Ngọc Chương, nguyên Phó phòng Sưu tầm của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia).

Tháng 5 - 1960, bản dịch đầu tiên của "Nhật ký trong tù" đã kịp ra mắt bạn đọc rộng rãi nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sau đó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Pháp, Séc, Triều Tiên, Anh, Tây Ban Nha, Romania…. và được đưa vào giảng dạy trong các trường học; tác phẩm đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích trên nhiều phương diện nội dung tư tưởng, tính chiến đấu, tính nhân văn và nghệ thuật thơ.

Ngoài giá trị về tư tưởng, triết học, văn học nghệ thuật, tác phẩm còn có giá trị lịch sử vô giá. Ngày 1 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định công nhận "Nhật ký trong tù" là Bảo vật Quốc gia.

3. “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” - Là bản thảo viết tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đứng lên đánh Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc, ngày 19/12/1946.

Bản thảo"Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Những ngày đầu tháng 12 - 1946, với âm mưu và dã tâm quay trở lại xâm lược Việt Nam một lần nữa, thực dân Pháp liên tục gây hấn tại Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn…, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bí mật về ở và làm việc tại gia đình ông Nguyễn Văn Dương, làng Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Tây (nay là Hà Nội). Tại đây, trên căn phòng nhỏ ở gác hai, Người đã viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Bản thảo được viết trên hai trang giấy rời, màu ngà (không có dòng kẻ), kích thước 13,5cmx 20,5cm.

Ngắn gọn, súc tích chỉ với hơn 200 chữ, "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" khẳng định khát vọng hòa bình, ý chí, quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc; Là lời hịch cứu nước, cổ vũ, thôi thúc, động viên toàn dân nhất tề đứng lên đánh giặc; Phác họa những nét cơ bản về đường lối, góp phần chỉ đạo, định hướng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi

Người đầu tiên được nghe Bác đọc bản thảo là đồng chí Lê Chí Nam, công tác tại Văn phòng Quân sự, người giúp đồng chí Võ Nguyên Giáp theo dõi tình hình chiến sự, điện tín, đánh máy văn bản... nên thường được gặp Bác Hồ. Đọc xong bản thảo, Bác hỏi: Cháu nghe có hiểu không? viết như thế đồng bào nghe có hiểu không? Lê Chí Nam trả lời: Thưa Bác, cháu hiểu được, dễ hiểu lắm! Tiếp đó, Bác bảo Lê Chí Nam đem bản thảo đến hỏi ý kiến chú Văn (tức Võ Nguyên Giáp) và chú Nhân (tức Trường Chinh) xem có “thêm bớt” gì không. Khi nhận lại bản thảo từ đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Lê Chí Nam không thấy có sửa chữa gì, còn đồng chí Trường Chinh có thêm vào bằng nét mực xanh 5 chữ và sửa dấu “.” thành dấu “!”. 

- Bác viết: chống Pháp, cứu nước, đồng chí Trường Chinh thêm hai chữ thực dân, thành chống thực dân Pháp, cứu nước.

- Bác viết: V.N. độc lập muôn năm, đồng chí Trường Chinh thêm chữ và thống nhất, thành khẩu hiệu V.N. độc lập và thống nhất muôn năm!

Ngay ngày hôm sau, 20/12/1946, Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát đi trên làn sóng của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam khi ấy đặt tại chùa Trầm (Hà Tây cũ) và đăng trên trang nhất báo Cứu Quốc - cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh đồng thời được in thành hàng ngàn áp phích, chuyển về nhiều địa phương trong toàn quốc. Tiêu đề “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” do đồng chí Xuân Thủy - Chủ nhiệm báo Cứu Quốc đặt, còn bản gốc của Bác soạn không có tiêu đề.

Trong hơn hai mươi năm lưu giữ bản thảo "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Chí Nam luôn ý thức đó là tài liệu vô cùng quý báu, do vậy, ngày 4/6/1970, đồng chí đã chuyển giao bản thảo "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Mỗi di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại đều chứa đựng những giá trị, ý nghĩa lớn lao, luôn tỏa sáng, soi đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi. Cùng với 3 hiện vật đã được công nhận Bảo vật quốc gia "Đường Kách mệnh"; “Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù)” và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện đang lưu giữ 4.361 hiện vật, tài liệu, hình ảnh liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giữ gìn, bảo quản, phát huy, tôn vinh, truyền tải, lan tỏa rộng rãi những giá trị to lớn của di sản Hồ Chí Minh đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước đã, đang và sẽ mãi là niềm tự hào, vinh dự và trọng trách của các thế hệ cán bộ viên chức Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam./.

 

Ths. Phạm Thị Mai Thủy

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 715

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Báu vật kể chuyện kinh đô nước Việt

Báu vật kể chuyện kinh đô nước Việt

  • 08/05/2020 10:41
  • 335

Đại Việt Sử Lược chép về sự ra đời của nhà nước đầu tiên: “Đến thời Trang Vương nhà Chu (năm 696-682 trước Công Nguyên) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”. Như vậy, từ thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, nước ta đã có Quốc hiệu là Văn Lang và Kinh đô cũng mang tên gọi như vậy. Truyền thuyết ngàn đời cũng nói đến Hùng Vương là Vua Tổ, đất Việt Trì, Lâm Thao là Đất Tổ có Kinh đô Văn Lang.