Thứ Sáu, 05/06/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

27/02/2020 10:03 366
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Như chúng ta đã biết, dân tộc Mường trong lịch sử phát triển chưa bao giờ có nghề làm gốm, sứ cũng như nghề đúc đồng. Họ chỉ có nghề dệt cổ truyền, bổ sung cho một nền kinh tế nương rẫy với một số ruộng nước ở các thung lũng hẹp. Thế nhưng, trong các khu mộ cổ đã được khảo sát và khai quật ở Mường Hòa Bình và Hà Tây, thấy đồ tùy táng chủ yếu là gốm sứ với số lượng lớn. Tổng số đồ gốm sứ thu được trong 47 ngôi mộ được khai quật, thuộc các Mường Bi – Vang – Thàng - Động ở Hòa Bình và Hà Tây, đã lên tới số vài trăm (Phạm Quốc Quân 1994). Số lượng này chỉ phản ánh một phần rất nhỏ so với thực tế đào phá các khu mộ ở hai tỉnh này trong gần hai thập niên qua (1978 - 1996) của những người dân bản, đào bới mộ cổ, săn tìm cổ vật, bán cho bọn con buôn và những người sưu tập đồ cổ.

 

Những ngôi mộ đá ở đất Mường (nguồn Internet)

Hiện nay, một số trong những đồ gốm sứ đó còn được lưu giữ ở một vài gia đình Hà Nội, và những mảnh vỡ của chúng còn nằm rải rác trong các gia đình nông dân Mường. Bởi vậy, nếu bàn đến đồ gốm sứ ở mộ Mường mà chỉ vẻn vẹn trong 47 ngôi mộ, thì chưa phản ánh hết thực tế. Chính vì lẽ đó, bài viết này đã sử dụng cả những tư liệu của những nguồn đã nêu trên, may chăng mới đủ đáp ứng được những vấn đề bài viết đặt ra.

I. NIÊN ĐẠI VÀ NGUỒN GỐC.

Ở một số bài viết trước, tôi và các đồng nghiệp đã đặt khung niên đại của mộ Mường, từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 13 (Phạm Quốc Quân 1993, 1994; Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986). Khung niên đại này dùng cho các trung tâm mộ với tư cách là những nghĩa địa nhà Lang. Trong thực tế mộ Mường còn tồn tại đến tận ngày nay, nằm rải rác, chứ không tập trung. Lí do không tập trung thành nghĩa địa lớn, hẳn có liên quan tới chính sách cải cách hành chính của Minh Mạng, khiến chế độ nhà Lang bị giáng một đòn mạnh (Phạm Quốc Quân 1994).

Khung niên đại trên đây, không chỉ được cấu trúc mộ phản ánh mà những di vật như trống đồng, tiền đồng chôn theo ủng hộ. Đặc biệt, đồ gốm sứ được xem như một cứu cánh để làm sáng rõ khung niên đại này, song cho đến nay, vẫn chưa có một chuyên khảo nào về đồ gốm ở Mường.

Bài viết này, chúng tôi thử bước đầu tìm hiểu nguồn gốc, niên đại và lí do về sự có mặt của chúng ở Mường qua các chặng mốc thời gian nhất định, thông qua các dòng gốm chính yếu của Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận.

1. Gốm hoa lam.

Là dòng gốm phát triển nhất trong lịch sử phát triển gốm sứ, nên trong các mộ Mường, tỉ lệ cũng cao nhất so với các dòng gốm khác. Có thể phân ra 3 khung niên đại với 3 nguồn cung cấp sau đây:

- Thế kỷ 14 là những đồ gốm thuộc Cảnh Đức Trấn, với những tiêu bản gốm hoa lam điển hình của thời Nguyên (Trung Quốc), như nậm dáng tì bà, tước, ấm v.v… Các loại hình này thường được trang trí 5 - 7 tầng hoa văn: cánh sen đầu vuông, hoa dây, lá chuối lật, với một băng chủ đạo ở chính giữa di vật. Chân đế không tráng men, thường để mộc.

Màu men trắng ngả xanh, làm nền cho màu men lam xanh cô-ban điển hình. Xương đồ gốm thường dầy, thô, nặng. Đôi ba tiêu bản, ở vai hoặc cổ có ghi chữ “Nội phủ” hoặc “Xu phủ”.

Hầu hết đồ hoa lam Nguyên tìm thấy ở các khu mộ Dũng Phong (Kì Sơn), Suối Cỏ (Lương Sơn), nhưng đều đã trở thành hàng hóa. Một tiêu bản duy nhất còn lại mà tôi đã chụp ảnh được ở công an huyện Kì Sơn, do bắt được của bọn buôn bán cổ vật ở khu mộ Dũng Phong, nay cũng không còn nữa.

Cũng thuộc niên đại này còn có gốm hoa lam Việt Nam. Đó là những loại hình âu, ấm có men màu trắng đục, vẽ vài nét lam mờ hai bên thành với các họa tiết lá, hoa sen. Men màu xám tro dưới men trắng được coi là gốm tiền hoa lam Việt Nam, mà giờ đây, có thể khẳng định chắc chắn thuộc thế kỉ 14, với những di vật tìm thấy trong địa tầng xóm Hống, xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, Hải Dưng (Hà Văn Cẩn 1996). Địa tầng ấy đã được các nhà khảo cổ học liên cơ quan (Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Hải Hưng) đặt trong khung niên đại thế kỉ 14. Như thế ít nhất cũng thu hẹp được nguồn gốc của gốm tiền hoa lam Việt Nam là Xóm Hống, vì đây là địa điểm đã tìm ra những vết tích của lò nung gốm thế kỉ 14 (bao nung, con kê, sản phẩm dính nhau, tường và trần lò có thủy tinh hóa). Dẫu vậy, theo tôi đây cũng chỉ là một trong nhiều địa điểm sản xuất gốm tiền hoa lam của Việt Nam mà thôi, vì ngày nay, gốm loại này tìm thấy khá nhiều, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản, Philippin, Indonexia.

- Thế kỷ 15 - 16: Đây là hai thế kỉ tập trung nhất loại gốm hoa lam. Cảnh Đức Trấn vẫn là nguồn cung cấp gốm sứ hoa lam cho Mường, tuy số lượng không nhiều lắm. Có lẽ, thời gian này, nhà Minh có chính sách “bế quan” nên số lượng sứ hoa lam chính thống ít thấy là lẽ đương nhiên. Tuy vậy, những sản phẩm gốm sứ thời Hồng Vũ, Tuyên Đức, Thành Hóa, Gia Tĩnh v.v… cũng không phải ít. Thậm chí có những tiêu bản trang trí hoa, phượng, đáy có ghi 6 chữ Hán “Đại Minh Thành Hóa niên chế”, chứng tỏ sản phẩm lò quan cũng đã có mặt ở Mường. Điều đó, gián tiếp mách rằng, chính sách “tỏa cảng” của nhà Minh không mấy hiệu quả.

Trong khi gốm hoa lam thời Minh ít như vậy ở Mường, thì gốm hoa lam Việt Nam của hai thế kỷ này lại xuất hiện khá lớn, với đủ các loại hình: bát, đĩa, âu, bình, lọ tì bà, ấm v.v… Tuy nhiên, những tiêu bản gốm hoa lam đẹp như chiếc bình do Tổng cục Hải quan tặng Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam được trưng bày trong phòng gốm Chu Đậu (Hải Hưng) năm 1995, là hiện tượng hiếm thấy ở Mường. Sở dĩ có hiện tượng ấy cũng là lẽ đương nhiên, vì thế kỉ 15 - 16, do nhà Minh không xuất khẩu gốm sứ, nên đồ gốm Việt Nam có điều kiện xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Và phải chăng, những sản phẩm đẹp đều được tuyển làm hàng xuất khẩu. Đây không phải là một hiện tượng, không chỉ được ghi nhận ở Mường, mà ở hầu hết các di tích như Cồn Sành, Kì Anh (Hà Tĩnh), Lam Kinh (Thanh Hóa) hoặc thậm chí ngay tại nơi sản xuất như Chu Đậu, Hùng Thắng, (Hải Hưng), đồ gốm hoa lam đẹp đều ít thấy.

Dựa vào phong cách gốm, chúng tôi có thể nhận ra, chí ít là hai trung tâm sản xuất: Một là Chu Đậu, Hùng Thắng (Hải Hưng), và một là ở Hải Phòng, với hai trung tâm gốm Lê, Mạc nổi tiếng ở Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo và Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng (Nguyễn Văn Sơn 1994).

- Thế kỉ 17 - 18: Gốm hoa lam rất phong phú, song dường như, gốm hoa lam Việt Nam bị thiếu hụt ghê gớm so với hai thế kỉ trước, thậm chí không hề thấy trong sưu tập ở hầu hết các khu mộ cổ ở Mường. Hai thế kỷ này, đồ gốm hoa lam Cảnh Đức Trấn cũng thiếu vắng, tuy còn thấy đôi ba tiêu bản sứ thời Khang Hy. Gốm hoa lam của hai trung tâm lớn nhất ở hai thế kỉ trước là Cảnh Đức Trấn và Hải Hưng, nay được nhường chỗ cho hai trung tâm: Sơn Đầu, Quảng Đông (Trung Quốc) và Hizen (Nhật Bản).

Những khu mộ ở vùng núi cao của Hòa Bình, như khu A Đống Thếch, Kim Bôi, Dũng Phong, Kì Sơn hay Mường Vang, Lạc Sơn v.v… thấy chủ yếu là hai loại gốm này.

Về đặc điểm, hai loại gốm này dường như chúng còn khá xa lạ.

Gốm Sơn Đầu có xương thô, ít kao lanh, men trắng đục phủ đầy, nhiều tiêu bản có vết men rạn. Màu xanh lam không tươi, mà trầm trên nền trắng. Đáy hiện vật có dính nhiều cát. Phong cách hội họa thoáng đạt, phảng phất chất hội họa hiện đại, với đề tài chủ yếu là chim, hoa, muông thú. Đề tài con người ít thấy trong các loại gốm này. Không thấy đáy hiện vật có ghi niên đại, nhưng có những dấu vuông kí hiệu lò.

Gốm Hizen có xương mỏng và nhiều kao lanh. Men trắng đục phủ mỏng, men lam vẽ trên nền trắng có màu xanh tươi, trong. Đáy hiện vật cũng có dính cát, nhưng không to và dầy như Sơn Đầu. Đề tài chủ yếu là cây cỏ, hoa lá, nhưng cũng có nhiều tiêu bản vẽ người, phong cảnh sơn thủy, chủ yếu lấy tích cổ Trung Quốc để thể hiện. Cũng không ít tiêu bản vẽ động vật như Long mã. Cá chép vượt sóng. Dưới đáy hiện vật nhiều khi lấy niên hiệu của Trung Quốc như “Thành Hóa niên chế” “Đại Minh Vạn Lịch niên chế” hoặc “Hoàng Minh Vạn Lịch niên chế” (Phạm Quốc Quân, Nguyễn Đình Chiến 1995). Tuy nhiên, do thợ gốm Nhật Bản sao chép Hán tự không điêu luyện. Hiện tượng này cũng thấy không ít trên đồ gốm Việt Nam.

Có thể nói, thế kỉ 17- 18, gốm Sơn Đầu và Hizen tràn ngập thị trường Việt Nam và Đông Nam Á. Điều này không chỉ thông qua sưu tập ở Mường, mà còn thấy qua thư tịch và thực tế các di tích ở Việt Nam và Đông Nam Á (Bùi Minh Trí, Phạm Quốc Quân 1994). Có lẽ vì thế mà phong cách Sơn Đầu, không chỉ ảnh hưởng tới gốm Hizen Nhật Bản, mà còn tới một số trung tâm gốm khu vực, trong đó có Việt Nam.

2. Gốm nhiều mầu.

Nếu như gốm hoa lam có số lượng phong phú trong các mộ Mường, thì gốm men nhiều màu giữ vị trí khiêm tốn hơn rất nhiều. Chúng thuộc vào trung tâm sản xuất và các niên đại sau đây.

- Thế kỉ 16: với những tiêu bản hiếm hoi của sứ nhiều màu dưới men trắng của trung tâm Cảnh Đức Trấn. Đó là những tiêu bản giá gác bút, hình vẽ rồng, sóng nước bằng men màu đỏ, xanh lục, vàng, lam. Đáy hiện vật có ghi niên hiệu “Đại Minh Gia Tĩnh niên chế”. Tất cả giờ đây, tôi chỉ còn được xem ảnh, còn hiện vật không biết đã nằm đâu trong các sưu tập của nước ngoài. Những người đào được cho biết, chúng được thấy trong những ngôi mộ ở Xuân Mai (Hòa Bình).

Đồ gốm nhiều màu vẽ dưới men và trên men Việt Nam thuộc thế kỉ 15 - 16 của trung tâm gốm Hải Hưng, tìm thấy ở Mường cũng không nhiều. Chúng chủ yếu là đĩa, đôi khi là bình, lọ tì bà vẽ hoa lá 3 màu (vàng, đỏ, xanh lục) trên nền men trắng và màu men lam cô-ban dưới men trắng. Vì lẽ đó, những màu trên men, do nằm lâu ngày dưới đất đã bị tróc men, tuy vẫn nhận ra những màu cơ bản ấy.

Sự hiếm hoi đồ gốm men nhiều màu của Việt Nam ở Mường cũng là lẽ đương nhiên, vì những sản phẩm cao cấp và hiếm quý ấy, lúc đương thời, cũng đã được ưu tiên cho xuất khẩu. Hiện tượng gốm men nhiều mầu Việt Nam phong phú trong con tàu chìm ở Hội An (Quảng Nam - Đà Nẵng) và trong các ngôi mộ đào dược ở Philippin có thể nói giúp được sự thiếu vắng ấy. Một điều lạ nữa, ở Mường không hề thấy đồ gốm đa sắc thời Mạc như đã từng thấy ở dưới xuôi. Theo tôi, loại gốm này được sản xuất chủ yếu là đồ thờ tự (cây nến, lư hương) nên diện phân bố của nó cũng chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ, nơi có chùa chiền, đền miếu, trong khi ở Mường không có loại kiến trúc này vào thời điểm đó.

- Sang thế kỷ 17, gốm men nhiều mầu Sơn Đầu thấy rất nhiều ở Mường. Vẫn màu men trắng đục, xương dầy ít kao lanh, dưới đáy có dính nhiều hạt cát to. Đề tài trang trí chủ yếu là hoa lá, cùng với đôi ba băng văn hình học ở đường viền, các màu xanh lục, đỏ, vàng, xanh cô ban, nên đa phần đã bị mờ nhạt do năm tháng ngâm dưới lòng đất.

3. Gốm hoa nâu.

Gốm hoa nâu là một đặc trưng không thể trộn lẫn của gốm Việt Nam, mặc dù có không ít ý kiến của các học giả Quảng Tây (Trung Quốc) và Việt Nam, cho rằng gốm hoa nâu Việt Nam phảng phất chất Từ Châu. Gốm hoa nâu có mặt từ thời Lý, trong các ngôi mộ có những di vật thời Nam Tống, phát hiện được ở Bãi Cời, xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) (Phạm Quốc Quân 1994). Gốm hoa nâu thời Lý có một đặc trưng rõ nét về dạng hình, đó là những loại ấm đầu người mình chim, những con giống nhỏ, thạp nhỏ, chân tiện trổ thủng có hoa 4 hoặc 6 cánh nhọn như hoa súng, được tạo bởi kĩ thuật tạo men phủ, để lộ phần mộc, rồi vẽ son nâu lên phần mộc ấy, nên đôi chỗ còn lộ rõ đường viền không men. Sang đời Trần, gốm hoa nâu vẫn tồn tại ở Mường, nhưng với kích thước lớn hơn thời Lý nhiều lần, bao gồm các loại: thạp, chậu có cánh sen ở vai, hoa dây ở thân, với kĩ thuật không khác thời Lý. Đến thời Lê Sơ, gốm hoa nâu vẫn có ở Mường, nhưng kĩ thuật đã có bước chuyển đổi, chịu ảnh hưởng của kĩ thuật gốm hoa lam đồng đại, nên họa tiết hoa nâu được thể hiện dưới men, với đường nét uyển chuyển không khác gốm hoa lam.

Như vậy, gốm hoa nâu, kể từ khi xuất hiện thời Lý đến thời Trần, qua Lê Sơ, và cũng thấy sự chuyển đổi kĩ thuật từ truyền thống sang ảnh hưởng hoa lam, mà ta đã thấy ở gốm hoa nâu nói chung. Rồi sự kết thúc của nó ở cuối thế kỉ 16 thì cũng là lúc nó không còn thấy ở Mường, thì phải chăng, cũng thêm một bằng chứng để khẳng định sự cáo chung của gốm hoa nâu Việt Nam vào thế kỉ 17.

4. Gốm men ngọc.

Men ngọc hay gốm céladon là dòng độc sắc phong phú nhất ở mộ Mường cổ, sau gốm hoa lam. Chúng có đủ các loại hình như: bát, đĩa, ấm, hộp, tượng người, tượng thú, bình, hũ, âu v.v… Có thể nói, không một loại hình nào của dòng gốm celadon thiếu vắng trong các mộ Mường.

Đồ men ngọc ở Mường có niên đại từ thế kỉ 12 đến thế kỉ 15 - 16, bao gốm các trung tâm chủ yếu sau đây.

- Thế kỉ 12 - 13: Đó là những đồ celadon điển hình của thời Nam Tống thuộc các lò Long Tuyền, của các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc).

Gốm celadon Long Tuyền có men dầy, dưới lớp men có màu đỏ mà các nhà cổ vật gọi là dụ lộ hồng. Xương gốm đanh và nhiều Kao lanh.

Nhìn vào sưu tập gốm celadon ở Mường, chúng ta thấy sản phẩm của lò Long Tuyền rất ít, trong khi những sản phẩm của ngoại Long Tuyền khá nhiều. Tình hình này cùng lặp lại ở thế kỉ 15, khi mà đồ céladon thời Nguyên nhan nhản ở Mường. Điều này chứng tỏ rằng, vùng Nam Trung Quốc thời quá khứ, đã giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ giao thương với Việt Nam.

Đồ céladon Việt Nam ở thế kỉ 13 - 14 cũng thấy ở Mường không ít. Tuy nhiên, gốm men ngọc Việt Nam không có màu xanh điển hình, mà ở thời gian này, chỉ có màu vàng hoặc phớt xanh, dưới đáy để mộc hoặc tô son nâu. Loại hình chủ yếu là bát, đĩa, âu. Trang trí phổ biến là chìm dưới lớp men, với các mô típ hoa lá dây, cánh cúc v.v… Xương gốm có màu trắng xám, không kao lanh.

Sang thế kỉ 15 - 16 loại men xanh ngọc lò Chu Đậu, Hùng Thắng (Hải Hưng) xuất hiện nhiều ở Mường dù không đạt chất lượng như celadon Trung Quốc vì men được phủ trên xương đất có độ nung chưa cao, lại thất thường do độ lửa trong lò không khống chế đều. Hoa văn và loại hình kém phong phú hơn trước, chủ yếu là tước, đĩa nông lòng, chân cao, có tô son.

Gốm celadon thế kỉ 13 - 14 của Việt Nam có thể khẳng định được trung tâm sản xuất là vùng Thiên Trường, Hà Nam Ninh, Kiếp Bạc (Hải Hưng), Kim Lan (Hà Nội)… Thế kỉ 15 – 16 cho dù céladon Viêt Nam chưa đạt, hoặc đi theo một hướng phát triển khác, mang nặng chất gốm (khác chất Stoneware của Trung Quốc), nhưng cũng đã trình được những tiêu bản khá điển hình, mà trung tâm Hùng Thắng (Hải Hưng) cung cấp, được xem là hai thế kỉ đỉnh cao của chất lượng celadon Việt Nam.

Như vậy, gốm celadon trong mộ Mường có khung niên đại dài. Có bước thăng trầm về số lượng, chất lượng và hoa văn trong mấy thế kỉ tồn tại.

(Còn nữa)

TS. Phạm Quốc Quân

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 526

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Những Kim Bảo đời vua Minh Mệnh (1820 - 1840)

Những Kim Bảo đời vua Minh Mệnh (1820 - 1840)

  • 19/02/2020 10:23
  • 460

Vua Minh Mệnh tên là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên là Kiểu, con thứ 4 của vua Gia Long và Hoàng hậu Nguyễn Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu), sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (25/5/1791) tại làng Tân Lộc, Gia Định. Năm Ất Hợi (1815) được lập thành Hoàng Thái Tử. Vào tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, làm vua được 21 năm (1820-1840). Trong thời gian trị vì, vua Minh Mệnh đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính quy mô và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, bãi bỏ chế độ phân quyền, xây dựng Đế chế Trung ương tập quyền, đề cao pháp trị và độc tôn Nho giáo. Nhà vua cho đổi các trấn làm tỉnh, định lại quan chế, đặt mức lương bổng của các quan tuỳ theo ngạch trật; thống nhất việc đo lường và y phục của dân chúng; khuyến khích khai hoang lập ấp, sửa sang hệ thống giao thông, lập nhà dưỡng tế ở các tỉnh để giúp những người nghèo khổ tàn tật, già cả không nơi nương tựa… Vua Minh Mệnh cũng rất chú trọng đề cao Nho học, khuyến khích nhân tài ra giúp nước. Nhà vua cho lập lại Quốc Tử giám, mở thêm khoa thi Hội và thi Đình. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng nhất trong lịch sử và nước ta thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh. Năm 1838, nhà vua cho đổi tên nước là Đại Nam. Có thể nói vua Minh Mệnh là vị Hoàng Đế tiêu biểu của nhà Nguyễn, những công lao của ông và thành quả đạt được trong suốt 21 năm đã được lịch sử ghi nhận, các vị Vua kế tiếp noi theo và thi hành.