Thứ Sáu, 05/06/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

19/02/2020 10:23 460
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Vua Minh Mệnh tên là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên là Kiểu, con thứ 4 của vua Gia Long và Hoàng hậu Nguyễn Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu), sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (25/5/1791) tại làng Tân Lộc, Gia Định. Năm Ất Hợi (1815) được lập thành Hoàng Thái Tử. Vào tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, làm vua được 21 năm (1820-1840). Trong thời gian trị vì, vua Minh Mệnh đã tiến hành công cuộc cải cách hành chính quy mô và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, bãi bỏ chế độ phân quyền, xây dựng Đế chế Trung ương tập quyền, đề cao pháp trị và độc tôn Nho giáo. Nhà vua cho đổi các trấn làm tỉnh, định lại quan chế, đặt mức lương bổng của các quan tuỳ theo ngạch trật; thống nhất việc đo lường và y phục của dân chúng; khuyến khích khai hoang lập ấp, sửa sang hệ thống giao thông, lập nhà dưỡng tế ở các tỉnh để giúp những người nghèo khổ tàn tật, già cả không nơi nương tựa… Vua Minh Mệnh cũng rất chú trọng đề cao Nho học, khuyến khích nhân tài ra giúp nước. Nhà vua cho lập lại Quốc Tử giám, mở thêm khoa thi Hội và thi Đình. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng nhất trong lịch sử và nước ta thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh. Năm 1838, nhà vua cho đổi tên nước là Đại Nam. Có thể nói vua Minh Mệnh là vị Hoàng Đế tiêu biểu của nhà Nguyễn, những công lao của ông và thành quả đạt được trong suốt 21 năm đã được lịch sử ghi nhận, các vị Vua kế tiếp noi theo và thi hành.

Vua Minh Mệnh mất ngày 28 tháng Chạp năm Canh Tý (20/1/1841) hưởng thọ 50 tuổi. Sau khi mất, bài vị của vua được đưa vào thờ ở Thế Miếu với Miếu hiệu Thánh tổ Nhân Hoàng Đế.

Khi lên ngôi, vua Minh Mệnh đã cho đúc một số Kim Bảo bằng vàng 10 tuổi, tiếp tục hoàn thiện hệ thống Kim Bảo của vương triều. Đồng thời trong giai đoạn này nhà vua đã đặt ra những quy định về việc chế tác và sử dụng ấn chương các loại nhằm đáp ứng công cuộc cải cách hành chính đồng bộ ở mọi lĩnh vực trên phạm vi cả nước. Trong sưu tập bảo vật của Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam hiện còn lưu giữ 8 Kim bảo đúc dưới đời vua Minh Mệnh. 

Vào tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8, 1827, bộ Lễ cùng phủ Nội vụ, ty Vũ khố nhận chỉ dụ đúc 5 chiếc Kim Bảo bằng vàng 10 tuổi. Trong nhóm 5 Kim Bảo này, Sắc mệnh chi bảo Hoàng Đế tôn thân chi bảo có cùng kiểu dáng quai rồng cuộn ngồi xổm tương tự nhau.

1. Kim Bảo: Sắc mệnh chi bảo. Ấn đúc bằng vàng, 2 cấp hình vuông, quai rồng cuộn ngồi xổm, đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xoè 9 dải hình ngọn lửa, chân rồng 5 móng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn đúc bằng loại vàng 10 tuổi, nặng 223 lạng 6 tiền ( khoảng 8,3 kg).

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện trong khung diềm: Sắc mệnh chi bảo.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, có đoạn chép lời dụ của vua Minh Mệnh năm 1828: “Từ trước đến nay phong tặng cho các thần kỳ cùng văn võ quan phẩm, thì đều dùng ấn Phong tặng chi bảo. Nay mới đúc ấn Sắc mệnh chi bảo, từ nay phàm có ban cấp cho văn võ, phong tặng cho thần dân đều cho dùng.”

 

2. Kim Bảo: Hoàng Đế tôn thân chi bảo. Ấn vàng 2 cấp hình vuông, quai rồng tương tự ấn Sắc mệnh chi bảo. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn đúc bằng loại vàng 10 tuổi, nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân (khoảng 8,7kg).

Mặt ấn đúc nổi 6 chữ Triện: Hoàng Đế tôn thân chi bảo.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, có chép về việc đúc và sử dụng ấn như sau: “Năm Minh Mệnh 8, xuống chỉ cho bộ Lễ chọn ngày tốt, hội đồng với phủ Nội vụ, ty Vũ khố kính cẩn đúc một quả Hoàng Đế tôn thân chi bảo, vuông 3 tấc 2 phân, dày 3 phân 6 ly… núm chạm rồng ngồi xổm… làm bằng vàng mười.”, “phàm có việc kính cẩn dâng huý hiệu thì đóng ấn này.”

Đây là Kim Bảo có kích thước và trọng lượng lớn nhất : Cao 11cm1, cạnh mặt ấn 13cm77, dầy 2cm68.

 

3. Kim Tỷ: Khâm văn chi tỷ. Ấn đúc bằng vàng 10 tuổi, 2 cấp hình vuông, quai tượng rồng ngồi, 2 chân trước chống, 2 chân sau quỳ, đầu ngẩng, sừng dài, đuôi xoè 9 dải hình ngọn lửa, chân 5 móng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn đúc bằng loại vàng 10 tuổi, nặng 137 lạng 7 tiền 4 phân.

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ: Khâm văn chi tỷ.

Khâm văn là tên một điện mà nhà vua thường bàn bạc với Cơ mật đại thần. Kim tỷ này được dùng đóng lên các văn kiện về vấn đề văn hoá, dựng nhà học, mở khoa thi, cầu hiền sĩ, làm sách và các việc về bên văn.

 

4. Kim Tỷ: Duệ vũ chi tỷ. Ấn đúc bằng vàng, 2 cấp hình vuông, có hình thể tương tự Khâm văn chi tỷ. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn đúc bằng loại vàng 10 tuổi, nặng 135 lạng.

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Triện: Duệ vũ chi tỷ.Ấn này dùng đóng trên các văn kiện liên quan đến việc binh nhung, cáo văn cho binh sĩ, huấn luyện quân binh, mở khoa võ thí cùng các việc về võ bị.

 

5. Kim Bảo: Trị lịch minh thời chi bảo.Ấn đúc bằng vàng, 2 cấp hình vuông, thể thức quai rồng như 2 chiếc ấn trên về ban văn, ban võ. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn đúc bằng loại vàng 10 tuổi, nặng 125 lạng 1 tiền 6 phân.

Mặt ấn đúc nổi 6 chữ Triện trong khung diềm: Trị lịch minh thời chi bảo.

Đây là Kim Bảo được đúc mới để thay thế ấn cũ bằng bạc đúc đời Gia Long, dùng đóng trên các bản lịch, bản chính sóc. So với ấn bạc cũ, 6 chữ Triện này tuy có bố cục tương tự nhau nhưng chi tiết đã khác ở các chữ Trị, lịch, minh chi.

 

6. Kim Bảo: Trường Khánh công ấn. Đúc vào ngày lành năm Minh Mệnh thứ 11, 1830, bằng bạc mạ vàng. Ấn này là của Nguyễn Miên Tông (Thiệu Trị) được vua Minh Mệnh phong làm Hoàng Thái tử với tước Công. Vào tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 19, 1838, nhà vua còn cho đúc 2 Kim bảo khác là Tề gia chi bảo Nhật nguyệt.

 

7. Kim Bảo: Tề gia chi bảo. Ấn đúc bằng vàng, một cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, tư thế như ấn trên. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán cho biết ấn được đúc bằng loại vàng 8 tuổi rưỡi, nặng 16 lạng 9 tiền và thời gian đúc vào ngày lành tháng 9 năm Minh Mệnh 19, 1838.

Mặt ấn đúc nổi 4 chữ Chân: Tề gia chi bảo.

Kim Bảo này được đúc cùng thời gian với chiếc ấn Nhật nguyệt dưới đây.

 

8. Kim Bảo: Nhật nguyệt. Ấn đúc bằng vàng, một cấp hình tròn, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi uốn. Lưng ấn khắc 4 dòng chữ Hán cho biết ấn được đúc bằng loại vàng 8 tuổi rưỡi, nặng 7 lạng 9 tiền và thời gian đúc vào ngày lành tháng 9 năm Minh Mệnh  thứ 19, 1838.

Mặt ấn đúc 2 chữ NhậtNguyệt trong ô tròn xen giữa văn mây nổi. Trong đó chữ nhật theo kiểu “bạch văn”, chữ trắng trên nền đậm.

Hai chữ nhật nguyệt ghép lại chính là chữ Minh, chữ đầu trong niên hiệu của vua Minh Mệnh. Đây là Kiềm ấn thuộc loại Tư chương, Nhàn chương của Minh Mệnh.

 

Dưới triều Minh Mệnh còn cho đúc các ấn vàng Hoàng Đế chi bảo (dùng đóng trong các văn bản Đại xá thiên hạ ban sắc thư với ngoại quốc, khi đi tuần hạnh, các dụ ban xuống cho đại thần, huân thần. Đáng tiếc Kim Bảo này hiện nay chúng ta không còn giữ được và có thể còn lưu lạc ở nước ngoài .

9. Kim Bảo: Hoàng Thái hậu bảo. .

Kim bảo đúc bằng vàng 8 tuổi , 1 cấp hình vuông, quai hình rồng tương tự chiếc Kim bảo trên nhưng chi tiết có khác ở phần lưng rồng chỉ là vẩy trơn không có mây, chân rồng 5 móng không xoè ra mà bấm xuống. Lưng Kim bảo trơn không khắc chữ gì. Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện cũng  “tương đồng” các Kim bảo đúc vào năm 1802 - 1820. 

Bằng việc so sánh với các Kim bảo khác, chúng tôi đều thấy Kim bảo nào cũng khắc rõ năm đúc. Theo kết quả so sánh của chúng tôi thì Kim bảo này vua Minh Mệnh cho đúc để phong tặng cho bà mẹ đẻ. Đó là bà Trần Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu). Bà là vợ vua Gia Long, người làng Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên. Bà là con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt. Bà sinh ngày 27 tháng 11 năm Mậu Tý (4/1/1769).

Năm 1778, khi 14 tuổi, bà được phong Tả cung tần (tức Nhị phi). Năm 1791, bà 24 tuổi sinh ra Thành Tổ Nhân Hoàng Đế (Minh Mệnh). Năm 1821, khi 52 tuổi, bà được vua Minh Mệnh tấn tôn làm Hoàng Thái hậu và cho đúc Kim bảo này .

 

Năm Minh Mệnh 18 (1837), khi 70 tuổi, bà lại được vua Minh Mệnh dâng tôn hiệu: Nhân Tuyên từ Khánh Hoàng Thái hậu và tấn tôn Kim sách và Kim Bảo.

Đến đời vua Thiệu Trị, cháu nội của Bà cũng dâng Kim sách và Kim bảo tấn tôn bà là Thánh mẫu Nhân Tuyên Từ Khánh Phúc Thọ Khang Ninh Thái Hoàng Thái hậu. Đó là năm 1841, lúc bà 74 tuổi.

Bà mất ngày 18 tháng 9 năm Bính Ngọ (6/11/1846), thọ 79 tuổi.

10. Kim Bảo: Nhân Tuyên từ Khánh Hoàng Thái Hậu chi bảo.

Kim bảo đúc bằng vàng 8 tuổi rưỡi, 2 cấp hình vuông, quai hình rồng đứng, đầu ngẩng, lưng cong, đuôi uốn, chân rồng 5 móng. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Bát ngũ tuế hoàng kim, trọng bát thập nhất lượng nhất tiền bát phân (Vàng tám tuổi rưỡi, nặng 81 lạng 1 tiền 8 phân).

- Bên phải: Minh Mệnh thập bát niên bát nguyệt cát nhật phụng chú tạo (Phụng mệnh đúc vào ngày lành tháng 8 năm Minh Mệnh 18, 1837). Mặt ấn đúc nổi 9 chữ Triện, theo 3 hàng, mỗi hàng 3 chữ: Nhân Tuyên Từ Khánh Hoàng Thái hậu chi bảo (Bảo của Nhân Tuyên Từ Khánh Hoàng Thái hậu).

Đây là Kim bảo thứ 2 của bà Trần Thị Đang và cũng là Kim bảo thứ 2 vua Minh Mệnh tấn tôn cho bà mẹ đẻ .

 

11. Kim Bảo:   Chính hậu chi bảo.

Kim bảo đúc bằng vàng 8 tuổi, 1 cấp hình vuông, quai hình rồng tương tự quai Kim bảo (N.4): Thái hậu chi bảo. Lưng Kim bảo khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Minh Mệnh thập thất niên sứng trọng cửu thập bát lượng tam tiền thất phân (Năm Minh Mệnh 17, 1836. Cân nặng 98 lạng 3 tiền 7 phân).

- Bên phải: Bát thập tuế hoàng kim (Vàng 8 tuổi).

Mặt Kim bảo đúc nổi 4 chữ Triện trong khung viền: Chính hậu chi bảo (Bảo của Chính hậu).

 

Kim bảo này do vua Minh Mệnh sai đúc đế tôn phong cho vợ của mình là bà Hồ Thị Hoa , người đã sinh ra Hoàng tử Hiến Tổ (Thiệu Trị). Bà còn có tên khác là Thật, người huyện Bình An (Biên Hoà). Bà là con gái Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, sinh ngày 5 tháng 11 năm Tân Hợi (30/11/1791). Năm 1806, bà được chọn vào hầu Thánh Tổ nơi Tiềm để. Năm 1807, bà sinh ra Hiến Tổ (Thiệu Trị) được 13 ngày thì mất.

Năm 1821, bà được sách tặng Chiêu Nghi, năm 1836, bà được sách phong Thần Phi. Có lẽ Kim bảo Chính hậu chi bảo phong tặng bà vào dịp này. Năm 1841, sau khi lên nối ngôi, vua Thiệu Trị dâng tôn thuỵ là Tá Thiên Lệ thánh nhân Hoàng hậu .

TS. Nguyễn Đình Chiến

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 526

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Về những lá đề đất nung trang trí hình hươu

Về những lá đề đất nung trang trí hình hươu

  • 13/02/2020 09:53
  • 272

Lá đề là loại hình trang trí phổ biến trên mái các di tích kiến trúc có niên đại từ thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 15 ở miền Bắc Việt Nam. Thống kê sơ bộ cho thấy có gần 40 di tích phát hiện thấy hình lá đề trang trí trên mái các di tích kiến trúc như cung điện, chùa, tháp, đền, đàn tế, lăng mộ... Hoa văn trang trí trên lá đề là các loại hoa văn hình rồng, chim phượng, ngọc báu, hoa lá, cá hóa rồng, hình con hươu, ngọn lửa... với nhiều biến thể khác nhau. Trong đó, hoa văn hình con hươu trang trí trên lá đề là hoa văn không phổ biến. Loại hoa văn này chỉ thấy trang trí trên lá đề cân xứng lợp trên mái ngói di tích Lỗ Giang (Thái Bình) và Ly Cung (Thanh Hóa).