Thứ Tư, 27/05/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

27/12/2019 10:13 275
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Nếu chỉ dựa vào tài liệu thành văn thì thật khó có thể khôi phục được bức tranh kinh tế - xã hội của người Mường cổ nói chung, và tỉnh Hòa Bình nói riêng, bởi trong tay có không quá mươi trang gia phả của các dòng họ quan lang và đôi ba trang chúc thư bằng đồng, niên đại sớm nhất cũng chỉ từ thời Lê.

Như vậy, tài liệu mộ táng sẽ được viện dẫn trong bài viết này tới mức tối đa, đặng phục dựng đôi nét nền kinh tế - xã hội Mường, ở những thế kỷ xa xưa hơn tài liệu thành văn và văn học dân gian Mường đề cập. Nói như thế, dù là gián tiếp, để bức tranh phác thảo này sớm được hình thành, trên cơ sở đó, mong các đồng nghiệp đắp bồi thêm, với những tư liệu mới phát hiện trong tương lai.

 

Mộ Mường cổ Hòa Bình (Ảnh: nguồn Internet)

I. Một xã hội kinh tế mở:

Xưa nay, tài liệu khảo cổ học mới chỉ biết đến những khu mộ Mường cổ thuộc thế kỷ 16 - 18 (Đỗ Văn Ninh 1974; Phạm Quốc Quân 1989; Nguyễn Đình Chiến 1983). Đôi bài viết có những ghi chú nhỏ rằng đồ gốm sứ trong các mộ Mường cổ, có niên đại từ thế kỷ 11 - 12 (Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba 1986; Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới 1986) và muộn hơn đôi chút.

Gần đây, bằng những tài liệu có trong tay, với sự quan sát trực tiếp hiện trường, chúng tôi khẳng định rằng niên đại của Mộ Mường cổ, chí ít bắt đầu từ thời Lý và kéo dài đến tận thế kỷ 18 (Phạm Quốc Quân 1993).

Như thế nhìn nhận kinh tế - xã hội Mường cổ, nên chăng phải bắt đầu từ đấy. Dõi theo các chặng đường từ Lý - Trần đến Lê thông qua các khu mộ tỉnh Hòa Bình, thấy đó là một xã hội có nền kinh tế mở, luôn luôn tiếp xúc và quan hệ với bên ngoài.

Dường như đồ tùy táng trong các ngôi mộ Mường thời Lý, cạnh đồ gốm Việt như hoa nâu, men ngọc và men trắng… chúng tôi gặp không ít đồ sứ Tống. Có một ngôi mộ ở Bãi Cời, xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn, đồ sứ Tống chiếm quá 50% tổng số. Chúng là những chiếc bát chóp celadon, vuốt cánh cúc bên ngoài cùng 1 chiếc đĩa men vàng vẽ bông hoa bằng que khắc chìm uốn lượn bên trong - có đầy đủ đặc trưng của sứ Tống Long Tuyền.

Chúng tôi chỉ đưa ra một ví dụ, thông qua một ngôi mộ được khảo sát. Còn nhiều hiện vật lẻ tẻ khác hiện có trong các sưu tập tư nhân, nguồn gốc từ vùng Mường Hòa Bình, đều cho biết, chúng có niên đại thời Tống. Thậm chí có cả những đồ cao cấp tới mức độc bản, xưa nay chưa từng thấy trong các catalogue thế giới. Đó là chiếc lọ hoa - mặc dù đã bị bong tróc men - nhưng còn nhận rõ màu vàng chanh, đính trên một bệ hoa sen nhiều tầng, cao 27cm, được xem như một đặc trưng nổi trội của sứ Tống. Đó là chiếc bát men nâu bên ngoài, men xanh màu thanh thiên bên trong, lòng bát được ám họa hoa dây mà các gân lá được thể hiện chi tiết, đều đặn tới mức mà ai đó, dù có thiên vị tới đâu, cũng không thể phủ nhận nguồn gốc Trung Hoa của nó.

Cũng có những đồ sứ mỏng như giấy, men màu xanh ngả vàng, đế mộc, còn lộ rõ những đường chỉ vết bàn xoay ở trôn với hoa văn khắc chìm hoa lá, huyền văn cong hình bán nguyệt… mà người Trung Quốc gọi là bạch định Tống cũng thấy xuất hiện trong đồ tùy táng của người Mường cổ.

Có thể đưa ra đây vô số đồ sứ Tống thấy trong các sưu tập tư nhân Hà Nội có nguồn Mường Hòa Bình, qua đó, có thể nhận rõ rằng, từ thời Tống, kinh tế - xã hội Mường đã hướng ngoại, tiếp nhận các sản phẩm gốm sứ Trung Quốc như một loại hàng hóa không thể thiếu trong đời sống thường nhật của tầng lớp quý tộc Mường.

Đến thời Trần, xã hội Mường dường như mở rộng cửa hơn, đón nhận không nhỏ đồ sứ Nguyên Trung Quốc.

Đồ céladon Nguyên thấy nhan nhản trên xứ Mường, cho dù thời gian tồn tại của triều đại này ngắn ngủi hơn nhiều triều đại Tống. Như thế, đủ thấy sức chiếm lĩnh của các lò gốm Nguyên trên thị trường Việt nói chung và Mường nói riêng là khá lớn. Đồ gốm Việt thời kỳ này có thấy trong các mộ, nhưng hiếm hoi. Dường như chỉ là những chiếc bát sâu lòng trôn mộc, trang trí hoa dây nhiều tầng… khá đơn điệu, trong khi xứ Nguyên, Cảnh Đức Trấn tràn ngập. Sứ hoa lam thời Nguyên như là điểm khởi đầu của dòng gốm men trắng vẽ lam, hiếm hoi tới mức mà hiện nay cả thế giới săn lùng như những kiệt tác hội họa, thì ở Hòa Bình, loại này cũng không hiếm. Không chỉ có bát, đĩa, mà có cả bình, lọ, ấm tì bà, có ghi hai chữ “Nội phủ” và “Xu phủ” ở thành hoặc trong lòng đĩa, bát. Đó là những sản phẩm chỉ được dùng trong hoàng tộc, mà không hiểu lý do nào đã có mặt ở xứ Mường cổ.

Xem thế, đủ thấy nhu cầu của người tiêu dùng và sự đón nhận hàng hóa bên ngoài của nền kinh tế Mường thật lớn.

Sang tới thời Lê, cùng với sự bùng nổ các khu lò gốm ở Quảng Đông, Phúc Kiến thuộc thời Minh, thì sức bành trướng của gốm sứ Minh tới nền kinh tế và đời sống Mường lớn lao gấp bội.

Hiển nhiên là, đồ gốm tam thái, ngũ thái và đồ sứ men trắng vẽ lam Cảnh Đức Trấn có hiếm hoi hơn so với đồ Quảng Đông, Phúc Kiến, song không phải là không có. Đồ sứ Quảng Đông - Phúc Kiến thấy không ít ở Mường.

Nếu như ở vào các thời điểm trước, đồ sứ Tống, Nguyên vào Việt Nam rồi tiến sâu vào vùng Mường bằng cửa cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) hoặc rất có thể bằng con đường xuyên núi, mà cho tới nay, chưa có tài liệu nào vạch được con đường thâm nhập ấy, thì vào thời Minh, con đường chủ đạo thông qua cửa cảng Phố Hiến (Hải Hưng) Thăng Long (Hà Nội). Những cuộc thám sát Phố Hiến vừa rồi của Bảo tàng tỉnh Hải Hưng, đã cho chúng tôi nhận thấy một sự trùng hợp không thể chối cãi giữa đồ sứ ở đây với đồ sứ trong các sưu tập mộ Mường cổ. Đương nhiên, nếu Phố Hiến sầm uất vào thế kỷ 17, thì sưu tập gốm sứ trong các mộ Mường, lại thấy xuất hiện từ các niên hiệu, Hồng Võ, Thành Hóa, Vĩnh Lạc… đời Minh. Như thế, buộc chúng ta phải suy nghĩ một con đường thâm nhập khác, không thể loại trừ, ngoài Phố Hiến, Thăng Long.

Một đặc điểm đáng lưu ý là, những đồ gốm hoa lam đẹp và tinh xảo của Việt Nam mà chúng ta thấy khá nhiều trong các sưu tập ở các Bảo tàng của Philippin, Indonesia, do người bản địa đào được trên đất nước của họ, thì trong lúc ấy, các mộ Mường ở Hòa Bình lại thấy rất hiếm hoi.

Rõ ràng trong khoảng 200 năm, nhà Minh dùng chính sách bế môn tỏa cảng “Thốn bản bất hạ hải” nên đồ gốm sứ Việt và Thái Lan mới có điều kiện chiếm lĩnh thị trường bên ngoài (Borwn 1988). Đó cũng có lẽ là lý do khiến cho đồ gốm Việt đẹp không hề thấy, hoặc hiếm thấy trong các mộ Mường đương thời.

Mặc dù, cho đến năm Long Khánh nguyên niên (1567) Minh Mục Tông mới bãi bỏ “Hải cấm” nhưng, trong các sưu tập Mường, thấy không ít đồ sứ sớm hơn niên điểm này, cho dù chủ yếu, là đồ sứ Nam Trung Quốc. Điều này cũng lý giải được cho sự thiếu vắng sứ chính thống Minh ở Mường, nhưng những vùng biên viễn, việc giao thương buôn bán vẫn tiếp diễn mà chính quyền trung ương không sao kiểm soát nổi.

Nhưng đồ sứ bạch định của Đức Hóa, hoa lam ở Sơn Đầu, Quảng Đông… thấy rất nhiều ở Mường, nên chăng được hiểu trong bối cảnh lịch sử như thế.

Đến cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, ngoài sứ Minh - Thanh, trong các mộ Mường còn thấy xuất hiện loại sứ men trắng vẽ lam Nhật Bản. Loại hình này, thoạt nhìn không khác gì đồ sứ Nam Trung Quốc đương thời, nhưng về men trắng, màu lam, kỹ thuật nung, phong cách vẽ thì hoàn toàn khác. Chúng chính là sản phẩm sứ Hizen của Nhật Bản tràn ngập thị trường Đông Nam Á lúc bấy giờ (The Kyushu Ceramic Museum).

Con đường xâm nhập của đồ Hizen vào Việt Nam đã bước đầu được nhận ra qua các cửa cảng Phố Hiến (Hải Hưng), Thanh Hà (Thừa Thiên) và Trung Phường (Quảng Nam - Đà Nẵng), cho dù, người Mường cổ không phải là khách hàng duy nhất, và không phải là trực tiếp, thương nhân Chàm - Việt hẳn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế nội thương thời đó (Phạm Quốc Quân 1985).

Dẫu là như vậy, chúng ta vẫn có thể thấy sức mua lớn lao của người Mường đối với các sản phẩm nói trên, khiến khó có thể giải thích cán cân xuất nhập của họ, khi nền kinh tế Mường, với sự hiểu biết hiện nay, vẫn không vượt quá nền kinh tế lúa nước ở những thung lũng hẹp, có sự trợ giúp của nương rẫy và nghề dệt cổ truyền. Nền kinh tế ấy, không gì khác hơn là tự túc tự cấp.

Vậy thì, hoặc người Mường phải xuất lâm thổ sản quý của xứ họ đổi lấy hàng hóa, hoặc họ phải là người tham gia vào mạng lưới nội thương, trung chuyển các sản phẩm của nhiều dân tộc khác liền kề để lấy gốm sứ, thông qua nền kinh tế hàng hóa.

Cả hai giả thuyết đều có cơ sở, nhưng thật khó chứng minh, bởi thiếu tư liệu. Tuy nhiên với sự hiện diện của đồ gốm sứ nước ngoài lớn như thế, buộc chúng phải thừa nhận rằng người Mường đã sớm tiếp cận với kinh tế hàng hóa và xã hội Mường là một xã hội sớm mở cửa. Dầu vậy, tài liệu khảo cổ học đã cho chúng ta bước đầu nhận ra, nhưng chưa thể phác họa được hoạt động của mạng lưới nội thương như đã trình bày.

II. Một xã hội phân hóa giai cấp khá rõ:

Khi xã hội có một nền kinh tế mở, có sức phát triển của kinh tế hàng hóa, ắt sẽ dẫn đến một kết quả là, xã hội đó có sự phân hóa giàu, nghèo.

Khảo sát những khu mộ Mường cổ ở Hòa Bình, chúng tôi thấy rõ rằng, chính những khu mộ ấy là thuộc tầng lớp trên.

Những cột đá to lớn làm hòn mồ, chắc chắn không phải là đá quanh vùng, chúng được chuyển từ nơi xa đến để xây dựng mộ địa cho dòng tộc, đủ nói rõ cho sự xa hoa và phí tổn trong việc xây cất những ngôi nhà của những người giàu ở thế giới bên kia. Truyền thuyết về voi đi kéo đá ở Kim Truy, huyện Kim Bôi, đã phản ánh (dù là chưa toàn diện) cho sự hao phí sức lực và tiền của trong việc kéo đá về làm hòn mồ của các tù trưởng địa phương.

Với mật độ dân cư thưa thớt vào các thời Lý - Trần - Lê của xã hội Mường cổ truyền, mà ngày nay có thể khoanh vùng được qua vết tích các khu mộ táng, thì thấy rất rõ rằng, mỗi một Mường, chỉ có 1, 2 khu mộ, rộng vài héc ta đủ chứng tỏ, chúng chỉ là đại diện “bền vững” cho những người giàu có. Đại đa số dân nghèo, không đủ sức xây cất cho mình những phần mộ nguy nga như thế. Có lẽ rừng là nơi cất giữ phần xác không hồn của họ?

Tuy nhiên, trong các khu mộ ấy, lại có những ngôi mộ giàu có hơn, đại diện cho những người giàu có nhất của dòng tộc, được xây cất nguy nga gấp nhiều lần các mộ khác. Ngoài cột đá to lớn, đồ sộ, ở những ngôi mộ như thế còn được xây dựng nhà mồ bằng vật liệu kiến trúc bền vững như gạch, mái ngói, khung gỗ. Vật liệu kiến trúc ấy rõ ràng phải mua từ bên ngoài, bởi xã hội Mường cổ, không có nghề làm gạch, gốm.

Ngôi mộ số 2 ở Dũng Phong, huyện Kỳ Sơn, Đống Thếch, Kim Truy (Kim Bôi) tìm thấy vật liệu kiến trúc nhà mồ khá đẹp: ngói riềm mái trang trí hoa sen, ngói lợp vẩy rồng… và, dường như, đồ tùy táng trong các ngôi mộ ấy, đều khá nhiều và đẹp.

Ngôi mộ số 2 ở Dũng Phong, đồ tùy táng hoàn toàn là sản phẩm của Trung Quốc, có ghi niên hiệu “Vĩnh Lạc niên tạo” (1403 - 1425). Ở đó còn cả những bông hoa 6 cánh bằng vàng dát mỏng - những bông hoa ấy hẳn được đính trên mũ áo của người giàu có (Phạm Quốc Quân 1993a).

Ngôi mộ số 2 Kim Truy, tuy đã bị đào phá lấy đi gần hết hiện vật, song ở đó, có nhiều gốm đẹp: thạp hoa nâu, thạp men lục bổ múi trên khắc chìm tiên hóa cá, mồm thổi sáo, trống đồng, chảo, chậu đồng… trong quan tài còn có hạt chuỗi đeo cổ bằng đá rất đẹp (Phạm Quốc Quân 1993b). Đồ tùy táng chẳng những nói rõ chủ nhân mộ là phụ nữ, mà còn chứng tỏ sự giàu có của người quá cố, hẳn phải là mẹ, vợ của các quan lang Mường có quyền khá lớn.

Sự phân hóa giai cấp ở thời Lê sơ là như thế. Ở các giai đoạn trước như Lý - Trần tình hình cũng diễn ra tương tự. Nhưng khảo sát thực địa ở Lương Sơn, Ba Vì, cho thấy những ngôi mộ có niên đại Lý, hiện vật chôn theo đa số là đồ Trung Hoa thuộc lò Long Tuyền và Cảnh Đức Trấn. Thảng hoặc còn sót lại trong dân gian những mảnh sứ tam thái thời Nguyên, không chỉ giờ đây mới hiếm quý, mà đương thời đã rất hiếm hoi. Đáng tiếc là, những tài liệu như thế, nay chỉ còn được ghi nhận như một hiện tượng đã qua mà khó bề kiểm chứng, bởi sự phá hủy những khu mộ Mường cổ Hòa Bình. Dầu vậy, nếu cố gắng khảo sát ở một địa bàn hẹp thôi (một phần Hà Tây và Hòa Bình), trong các làng bản, ở các gia đình nông dân Mường, chúng ta sẽ còn được thấy những mảnh sứ, gốm quý ấy, minh chứng cho một đời sống vật chất khá xa hoa của lớp trên xã hội Mường cổ.

Sự phân hóa giàu nghèo trải qua nhiều thế kỷ, đã tạo nên những dòng họ, có thế lực chính trị lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới những Mường: Bi – Vang – Thàng – Động của Hòa Bình. Đó là 4 dòng họ Đinh, Quách, Bạch, Hoàng, đã truyền đời cai trị các xứ Mường, khiến cho họ vượt ra khỏi vòng cương tỏa của chính quyền Trung ương. Do vậy, Trung ương đã phải dùng chính sách gả bán công chúa cho các tù trưởng địa phương có thế lực để ràng buộc họ với Trung ương. Tuy vậy, chính sách đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục, để đến cuối thời Lê; chính quyền Trung ương phải dùng chế độ ban tặng chức và tước cho các tù trưởng có thế lực ấy, để lôi kéo và ràng buộc chặt chẽ họ hơn với chính quyền Trung ương. Văn bia trên mộ Đống Thếch, Kim Bôi ghi “Thổ tù xã Ngọc Lâu, huyện Phụng Hóa, phủ Thiên Quan. Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Tả đô đốc. Đô chỉ huy sứ (ở) Ty đô chỉ huy sứ Vệ Cẩm Y (tước) Vĩnh Lộc Hầu (tên là) Quách Phúc Thiêm…

Những dòng văn bia trên, thấy rõ chủ nhân mộ không thiếu sự vinh hoa, phú quý. Đương nhiên, đó chỉ là những chức, tước danh nghĩa, còn thực quyền, cũng chỉ gọn trong các Mường mà thôi.

Dẫu vậy, chính sách phong tặng ấy, đã tạo nên một tầng lớp quý tộc quan lại trong xã hội Mường cổ truyền. Họ không những được hưởng bổng lộc triều đình mà còn được mặc sức bóc lột dân đen dưới danh nghĩa cống tiến. Phú quý đã tạo cho họ vinh hoa và vinh hoa lại càng làm giàu thêm cho họ, để rồi sự phân hóa giai cấp trong xã hội Mường ngày một nặng nề hơn.

Có lẽ, cũng chính bởi sự gần gũi và thao túng của chính quyền phong kiến trung ương đối với các thế lực tù trưởng Mường, đã khiến cho Mường không có sự phản kháng bằng những cuộc khởi nghĩa nông dân như ở một số dân tộc khác. Tính chất cát cứ vốn không phải là hiện tượng phổ biến trong xã hội phong kiến Việt Nam, thì ở Mường, hiện tượng ấy càng rõ hơn, qua các giai đoạn lịch sử. Phải chăng, tính thích hợp của chính sách ràng buộc của chính quyền phong kiến trung ương, trong từng thời kỳ lịch sử đã phần nào thành công, không chỉ với dân tộc Mường. Xã hội Mường cổ truyền, dầu có sự phân hóa giai cấp mạnh như thế, nhưng vẫn không xảy ra những cuộc đấu tranh, dẫn đến những cuộc chiến tranh nội bộ, mà vẫn bình lặng yên ả trôi theo dòng lịch sử, để đến ngày nay hội nhập được trong lòng một xã hội Việt Nam đa dân tộc.

III. Một xã hội có đời sống tâm linh đa dạng:

Chúng tôi không dùng tư liệu dân tộc học để phác họa đời sống tâm linh của người Mường. Công việc đó không ít người đã làm và hẳn sẽ có những sai lệch khi thông qua các “hóa thạch” còn sót lại trong xã hội Mường hiện đại. Bài viết dùng tư liệu mộ táng để phần nào hiểu được một góc thật nhỏ trong đời sống tinh thần đa dạng của người Mường.

Cũng giống như một số dân tộc khác, quan niệm về cõi sống và cõi chết của người Mường là “của đồng chia ba, của nhà chia đôi”. Do vậy, người chết bao giờ cũng được chia của. Theo dõi suốt một hệ thống niên đại mộ, kéo dài 7, 8 thế kỷ của các khu mộ Mường cổ, thấy quan niệm ấy không hề thay đổi.

Họ cũng quan niệm rằng người chết vẫn còn linh hồn và linh hồn thường được trú ngụ và gửi gắm vào đá. Do vậy, các cột đá (hòn mồ) dựng lên, không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là đánh dấu mộ, mà đá chính là nơi trú ngụ của linh hồn (Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới 1986; Nguyễn Ngọc Thanh 1991; Phạm Quốc Quân 1987, 1989). Hiện tượng này không chỉ có ở Mường, mà khá phổ biến ở mộ số dân tộc Đông Nam Á, nó có quan hệ chặt chẽ với tín ngưỡng cự thạch (Wales 1957; Harri-sson 1963 - 1964; Smith 1929).

Thông thường, tín ngưỡng cự thạch có liên quan tới tục giữ và bỏ mồ. Do đó, nhà mồ của những ngôi mộ cổ hẳn xưa kia đã giữ chức năng làm nơi cho người sống chăm sóc người chết.

Giờ đây, những vết tích nhà mồ (và đương nhiên cả cột đá nữa) trong các khu mộ Mường cổ, mới chỉ xác định được chắc chắn từ thế kỷ 15 - 16 đến 17, 18 mà trước đó chưa một tư liệu nào đề cập đến. Tuy nhiên, nếu cứ tạm chấp nhận với khung niên đại ấy, thì chí ít, ảnh hưởng (mà rất có thể là tàn dư) của tín ngưỡng cự thạch trùm phủ lên tâm linh Mường một thời gian khá dài.

Giáo sư Viện Trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn đã có lần gợi mở cho tôi rằng, phải chăng có một khu vực ảnh hưởng (hoặc phân bố) trường thạch ở miền Tây Bắc Việt Nam và một khu vực trác thạch ở Đông Bắc. Dẫu chưa có điều kiện kiểm chứng, nhưng những dấu hiệu trác thạch mà các đồng nghiệp tìm thấy ở Hà Bắc cho hay những gợi ý ấy là có cơ sở.

Gần đây, đã có người mạnh dạn cho rằng, người chuyền tải văn minh trường thạch vào Mường rất có thể là người Thái (Phạm Quốc Quân 1983, 1986; Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới 1986).

Tuy nhiên, không hẳn mọi ý kiến đều nhất trí cho những cột đá mộ Mường có liên quan tới cự thạch, bởi số ít trong chúng là những bia mộ (Đống Thếch, Kim Bôi, Mường Vang, Lạc Sơn). Thật ra, cũng chẳng lạ chút nào, bởi khi nó được du nhập hoặc là tàn dư, hẳn sẽ không giữ ý nghĩa khởi nguyên vốn có của nó. Tình hình cũng giống như quan hệ: cột đá - giữ và bỏ mộ - cải táng mới trở thành một phức hợp cự thạch chân chính, thì ở Mường không có tục cải táng, thậm chí có cả hỏa thiêu (hẳn cũng du nhập từ Thái). Do vậy, lẽ đương nhiên, tính thiếu đồng bộ ấy, dưới con mắt hiện nay, phải được hiểu rằng, nó đã bị pha loãng qua thời gian, hoặc tiếp biến đan xen khiến cho sự bất cập hoặc lệch pha luôn xảy ra trong đời sống xã hội của người Mường hoặc bất cứ dân tộc nào.

Trong khi có những ảnh hưởng xa xôi về thời gian và trực tiếp về không gian như thế, thì với người Việt, anh em sinh đôi của Mường - sự ảnh hưởng này thật là đậm nét.

Chúng ta có thể tìm thấy trong cấu trúc mộ Mường với các mộ Việt thời Trần, một sự tương đồng hiếm thấy. Cũng những mộ hình cũi được trải than lót, bên trong có quan tài, đã tìm thấy những dạng cụ thể ở dưới xuôi có niên đại thế kỷ 13, 14, thì ở Mường, những vết tích gián tiếp đồng đại, chắc chắn đã tìm thấy ở Lương Sơn (Phạm Quốc Quân 1977).

Cũng như vậy, nếu như ở Kim Động (Hải Hưng) tìm thấy kiểu kiến trúc mộ tháp quy mô lớn và ở Nghệ Tĩnh, quy mô nhỏ (Võ Văn Tuyển và Nguyễn Mạnh Cường 1986), thì ở Lương Sơn (Hà Sơn Bình) cũng tìm thấy những vết tích kiến trúc này (Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới 1986).

Đương nhiên, phải thừa nhận rằng, đây cũng không hẳn là kiến trúc mộ thuần Việt, mà có ảnh hưởng của mộ Sở và Chàm, nhưng người Việt (Kinh) phải là chủ nhân trực tiếp chuyển tải sự ảnh hưởng này đến Mường.      Chúng ta còn tìm thấy hàng loạt những chi tiết khác như tục kè đá, trải lon sành… mà đã thấy ở các mộ hoặc kiến trúc thời Trần dưới xuôi, thì cũng thấy luôn ở mộ Mường Đống Thếch, Kim Truy (Kim Bôi).

Tiếp thu để làm phong phú đời sống tinh thần cộng đồng, những người Mường vẫn giữ được bản sắc văn hóa vốn có của tổ tiên.

Lối chôn cất bằng quan tài thuyền vẫn được sử dụng đến ngày nay ở Mường, thì xưa kia, vào những thế kỷ trước sau Công nguyên, đã được người Việt - Mường dùng để chôn cất ở những vùng đầm lầy ô trũng. Tuy nhiên, khi tách khỏi khối Việt - Mường chung, do bị tiếp xúc nhiều với văn hóa bên ngoài, nên truyền thống chôn cất ấy chỉ còn tàn dư vào thế kỷ 14 ở người Việt (Bùi Vinh và Nguyễn Trung Chiến 1983), trong khi người Mường vẫn bảo lưu như một di sản trong đời sống văn hóa tinh thần của họ.

Những vết tích quan tài thuyền ở Đống Thếch (Kim Bôi) (Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba 1986), cùng một phát hiện quan trọng ở mộ số 2, Bộ Mu, Kim Truy (Kim Bôi), với sự nguyên vẹn của chiếc quan tài thuyền, cùng hiện vật chôn theo, thuộc thế kỷ 16, đã chứng minh hùng hồn cho sự bảo lưu truyền thống chôn cất quan tài thuyền của người Mường. Trong khi ở người Việt (Kinh) dưới xuôi, đương thời chỉ là hiện tượng đơn lẻ, với một phát hiện duy nhất ở Thanh Đình (Nghệ Tĩnh), thì ở Mường hiện tượng quan tài thuyền thấy được ở Ngọc Lâu (Lạc Sơn), Lương Sơn, Kim Truy, Vĩnh Đồng v.v…, khá phổ biến, kéo dài 4, 5 thế kỷ liên tục cho đến hiện nay.

Cùng với truyền thống chôn cất quan tài thuyền, người Mường còn giữ được tục chôn theo trống đồng của người Việt cổ. Những chiếc trống loại II Heeger thấy trong mộ Mường trước đây khá ngẫu nhiên, khiến chưa rõ lối chôn cất, thì mộ số 2 Bộ Mu, đã cho biết, chúng được đào hố theo hình trống chôn úp, đặt quan tài lên trên, cứ 2 hoặc 3 chiếc theo chiều dọc quan tài. Dẫu có sự khác biệt trong cách bố trí trống đồng trong mộ giữa người Việt - Mường thời Đông Sơn, với người Mường thế kỷ 14, 16, song về hiện tượng, và chắc hẳn cả về bản chất của tín ngưỡng và tư duy, họ đều giống nhau.

Như vậy, nếu ngược dòng thời gian, chúng ta có thể gặp không biết bao nhiêu những “hóa thạch” của thời Đông Sơn, trong đời sống văn hóa xã hội Mường, mà tư liệu mộ táng hẳn góp công không nhỏ.

Với một nền kinh tế mở, hẳn sẽ dẫn đến một đời sống văn hóa tinh thần mở. Dẫu thế, qua tư liệu vừa được lược dẫn, ta thấy rõ, người Mường có tiếp thu để làm giàu đời sống tinh thần cộng đồng, song vẫn giữ được những nét truyền thống lâu đời của mình, như một bản sắc riêng biệt. Hẳn điều ấy là một tấm gương cho mọi dân tộc, muốn mở cửa mà không bị những luồng gió độc làm tổn hại đến văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Giá trị của bài học ấy vẫn có ích cho tới tận ngày nay.

Trên đây, tôi gắng phác họa những nét lớn trong bức tranh kinh tế - xã hội Mường cổ qua tư liệu mộ táng. Nói là bức tranh, nhưng đó chỉ là một góc nhỏ trong bức tranh toàn cảnh Mường. Dù chỉ là góc nhỏ, thì trên đó cũng chỉ là những nét nguyệch ngoạc, mờ nhạt và mong độc giả và bạn đồng nghiệp góp giúp, để bức tranh phác thảo kinh tế - xã hội Mường cổ phong phú và trọn vẹn hơn.

TS. Phạm Quốc Quân

 

           

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 507

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Di chỉ Ngõa Long (Hà Nội)

Di chỉ Ngõa Long (Hà Nội)

  • 18/12/2019 10:17
  • 213

Di chỉ Ngõa Long nằm ở cánh đồng Ngoã Long, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Di chỉ thuộc cánh đồng trồng màu, nằm trên dọi đất cao được dùng làm nơi sản xuất gạch của hợp tác xã nông nghiệp Minh Khai.