Thứ Tư, 27/05/2020
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

12/12/2019 15:23 315
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Chúa Nguyễn Phúc Chu, con trưởng của đức Anh Tông Nguyễn Phúc Thái và Hoàng hậu Tống Thị Lĩnh, sinh ngày 18 tháng 5 (nhuận) năm Ất Mão (10/7/1675), mất ngày 21 tháng 4 năm Ất Tỵ (1/6/1725), thọ 51 tuổi. Chúa là vị thứ 7 trị vì ở vùng Thuận Quảng. Ở ngôi trị vì 34 năm, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đã làm được nhiều việc quan trọng như mở khoa thi chọn nhân tài, xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh, các nước xung quanh nể trọng. Chúa còn mở mang bờ cõi đến biên giới Chân Lạp, lập thêm các phủ Bình Thuận và Gia Định. Đất phương Nam ngày càng trở nên phồn thịnh nhờ chính sách chiêu dân, lập ấp, dân chúng được yên vui, no đủ.

Tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1709), Chúa cho đúc Kim Bảo (ấn vàng) Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo để truyền về sau. Cũng trong năm đó, chúa còn cho đúc Tiểu long Kim Bảo: Thủ tín Thiên hạ văn vũ quyền hành, để dùng vào các việc chính sự.

Kim Bảo thứ nhất: Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo

 
 

Ấn đúc bằng vàng, 1 cấp hình vuông, quai hình tượng kỳ lân vờn ngọc, đầu quay về bên phải. Đầu lân ngẩng cao, chân trước bên phải chống, chân trước bên trái đặt lên viên ngọc, 2 chân sau chùng. Dọc lưng kỳ lân chạm khắc văn mây lửa. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Kê bát thập kim, lục hốt tứ lạng tứ tiền tam phân (Cộng vàng 8 tuổi, nặng 6 thoi 4 lạng 4 tiền 3 phân).
- Bên phải: Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt sơ lục nhật tạo (Đúc vào ngày 6 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5, 1709).

Trên cạnh ấn, phía đuôi kỳ lân, khắc 1 dòng 9 chữ Hán: “Lại bộ Đồng Tri Qua Tuệ Thư giám tạo” (Quan Đồng Tri bộ Lại là Qua Tuệ Thư trông nom việc đúc).

Mặt ấn đúc nổi 9 chữ Triện: Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo.

(Bảo của Chúa Nguyễn nước Đại Việt trấn giữ lâu dài). Như vậy, minh văn trên ấn đã xác nhận kim bảo này do chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho đúc vào năm 1709. Kim bảo này đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 2496 QĐ-TTg ngày 24 tháng  12 năm 2016.

Sách Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn, có đoạn chép về lai lịch và những câu chuyện kỳ lạ xoay quanh chiếc Kim Bảo này.(1)

Tuy lập vương phủ chính quyền riêng ở Thuận Quảng nhưng các chúa Nguyễn vẫn sử dụng lịch chính sóc theo niên hiệu của các vua Lê ở Bắc Hà. Do vậy, trên Kim Bảo này vẫn khắc niên hiệu Vĩnh Thịnh của vua Lê Dụ Tông.

Tại chùa Thiên Mụ (Huế) đến nay vẫn còn lưu dấu ấn Kim Bảo này. Chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long, cách trung tâm Tp. Huế khoảng 5km, do chúa Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu, một người rất tôn sùng đạo Phật, cho đúc quả chuông cao 2m50, nặng 3285 cân. Năm 1715, chúa lại cho dựng tại chùa một tấm bia cao 2m60, rộng 1m25, trên đế rùa cẩm thạch (2). Đường nét chạm khắc trên bia thật là uyển chuyển, tinh xảo và công phu. Chúa đích thân viết bài minh văn và cho khắc vào bia. Điều đáng lưu ý là hình dấu Kim Bảo truyền quốc trên đây lại được khắc đè lên dòng chữ ghi niên đại lập bia này cùng 3 dấu khác nhỏ hơn.

Năm 1989, hình dấu này đã được công bố trong tập sách “Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX” (3). Dòng chữ ghi niên đại lập bia, phiên âm như sau: Vĩnh Thịnh thập nhất niên tuế thứ Ất Mùi sơ Đông chí cát đán lập. Nghĩa là bia lập vào ngày Đông Chí năm Ất Mùi, năm Vĩnh Thịnh thứ  11, 1715.

Điều này đã xác nhận rõ ràng việc sử dụng Kim Bảo truyền quốc trong một sự kiện trọng đại của chúa Nguyễn, 6 năm sau khi đúc ấn.

Sử cũ cũng còn chép rằng, tháng 1 năm 1780, Nguyễn Ánh xưng Vương ở Sài gòn, dùng theo niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê và lấy ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo làm ấn truyền quốc, dùng vào các việc nội vụ chính sự.

Kim Bảo này là Kim Bảo truyền ngôi của các vua Nguyễn kế vị, nên được lưu giữ rất cẩn trọng. Sách Đại Nam thực lục cũng có đoạn chép rằng:

“Năm Canh Thìn, Minh Mệnh năm thứ nhất, 1820, tháng 2, ngày tốt, Thánh tổ Nhân Hoàng Đế tự tay phong kín [ấn] cất đi. Đến năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mệnh năm thứ 18, 1837, ngày 22 tháng Chạp, lại mở [ấn] xem một lần rồi viết chữ son niêm lại để cất như cũ, dùng để truyền cho ức muôn đời”(4).

Kim Bảo thứ hai: Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành

 
 

Ấn đúc bằng vàng, 1 cấp hình chữ nhật, quai hình tượng kỳ lân ngồi chầu đặt ở chính giữa theo chiều dài ấn, đầu ngẩng nhìn về phía trước, 2 chân trước chống, 2 chân sau quỳ. Kỳ lân có râu dài, dọc lưng chạm khắc văn mây. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán:

- Bên trái: Bát thập kim, bát lạng tam tiền lục phân. (Vàng 8 tuổi, nặng 8 lạng 3 tiền 6 phân).

- Bên phải: Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt nhị thập bát nhật tạo.  ( Đúc vào ngày 28 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh thứ 5, 1709).

Trên cạnh dưới ấn, phía đuôi kỳ lân có khắc 1 dòng 9 chữ giống hệt Kim Bảo thứ nhất: “Lại bộ Đồng Tri Qua Tuệ Thư giám tạo”. (Quan Đồng Tri bộ Lại là Qua Tuệ Thư trông nom việc đúc).

Mặt ấn đúc nổi 8 chữ Triện theo chiều dài, 2 hàng, mỗi hàng 4 chữ. Xung quanh là khung diềm chữ nhật, đúc nổi 2 hình rồng 5 móng uốn mình châu vào 2 quẻ Kàn Khôn. Đọc theo chiều dọc, từ trên xuống và từ phải sang trái là: Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành.

Trong sách Đại Nam Thực lục cũng có đoạn ghi chép về việc sử dụng chiếc ấn này như sau: “ Mùa thu, tháng 9, bắt đầu dùng ấn long tỷ nhỏ. (Trong ấn khắc 8 chữ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành”. Bấy giờ người ở xã Tiên Nộn là Đạt ngụy tạo ấn son để làm bằng giả, chúa [Nguyễn Phúc Chu] ghét thói tệ ấy, ra lệnh từ nay những bằng thị bổ thụ quan chức ở đầu giấy đều đóng ấn ấy đề phòng giả mạo”.(5)

Như vậy, 2 Kim Bảo này chính là 2 chiếc ấn vàng truyền quốc của chúa Nguyễn, tính đến nay vừa tròn 300 năm. Hai Kim Bảo này xứng đáng được coi là mở đầu cho lịch sử Bảo Tỷ của vương triều Nguyễn (1802- 1945). Hai chiếc ấn vàng này hiện được lưu giữ trong sưu tập bảo vật của Bảo tàng Lịch sử  Quốc gia Việt Nam.

TS. Nguyễn Đình Chiến

 

Chú thích:

1 Đại Nam thực lục, 1962. T1. Nxb. Sử học. Hà Nội, tr.170.

2 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Thiên Mụ.

3 Nguyễn Công Việt, 2005.  Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX.  Nxb. KHXH. Hà Nội, tr.289-290.

4 Đại Nam thực lục, 1962. T1. Sđd, tr.170.

5 Đại Nam thực lục, 1962. T1. Sđd, tr....

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 507

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác