Thứ Bảy, 14/12/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

28/11/2019 10:09 74
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
I. NIÊN ĐẠI CỦA PHỨC HỢP MỘ MƯỜNG.

1. Niên đại dưới:

Cho đến nay, dường như bất cứ ai nghiên cứu về mộ Mường đều nhất trí rằng, niên đại dưới của mộ Mường cổ vào giữa thế kỷ 17, căn cứ vào một số tài liệu chữ viết trên các hòn mồ ở Ngọc Lâu (Lạc Sơn), Đống Thếch (Kim Bôi) Hòa Bình (Đỗ Văn Ninh 1974, 1977; Nguyễn Đình Chiến 1982, 1983; Lê Đình Phụng - Phan Tiến Ba 1986).

Theo tôi, đây là niên điểm phổ quát đối với các khu mộ Mường cổ, còn với các ngôi mộ cụ thể thì tình hình không hẳn như thế. Ví dụ điển hình nhất là ngôi mộ số 2 Ngọc Lâu, có niên đại được định bằng phương pháp so sánh thuộc thời Nguyễn (Nguyễn Đình Chiến 1982, 1983).

Đây hẳn không phải là trường hợp đơn lẻ… Song, có lẽ từ sau thời Lê Trung Hưng, ở Mường không hề thấy các nghĩa địa lớn mang tính dòng tộc mà mộ táng phân tán rải rác trong và quanh các làng bản hiện thời, mà nay, chúng ta chưa có đủ điều kiện để khảo sát kỹ. Vậy, lý do lịch sử nào dẫn đến tình trạng phân tán ấy?

 

Những dòng văn tự cổ được khắc trên đá đã ghi lại chủ nhân của khu mộ cổ

là Đô đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ (nguồn Internet)

Như chúng ta đã biết, người Mường ở vùng Hòa Bình từ lâu đã hình thành 4 khu vực cư trú chính với quyền lực về chính trị kinh tế rất mạnh là Bi – Vang - Thàng - Động, do 4 dòng họ truyền đời cai trị là Đinh – Quách - Bạch - Hoàng. Thế nhưng từ khi Minh Mệnh lên làm vua (1820), ông đã dùng nhiều chính sách nhằm hạn chế quyền lực của các tù trưởng địa phương. Năm 1826, ông quyết định xóa bỏ đơn vị cư trú của người Mường và chia nhỏ ra thành các huyện, các xã như mọi vùng đất khác. Bằng biện pháp cương quyết đó, Minh Mệnh đã hạ cấp các Lang Cun, Lang Đạo, vốn là các “Vua con” của người Mường, xuống chỉ còn là các Thổ Tri huyện, Thổ Lại mục chịu sự quản lý của triều đình. Với biện pháp trên, Minh Mệnh không chỉ hạn chế, nhằm tiến tới xóa bỏ lãnh địa - địa bàn cư trú cổ truyền của người Mường mà còn thủ tiêu luôn nguồn gốc tạo nên quyền lực truyền thống đó.

 

Khu mộ đá Đống Thếch được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

 là niềm tự hào của dòng họ Đinh Công (nguồn Internet)

Quan trọng hơn cả là, năm 1835 với chế độ “Lưu quan”, vua Minh Mệnh đã giáng đòn mạnh vào xu hướng cát cứ, phân quyền, ly tâm ở các vùng dân tộc thiểu số trong đó có người Mường. Lần đầu tiên trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam, Minh Mệnh xóa bỏ chế độ thổ quan, chính thức bổ quan lại của triều đình lên cai trị trực tiếp các châu, huyện vùng cao. Lẽ đương nhiên, để hạn chế và ngăn ngừa sự chống đối của thổ quan mà ảnh hưởng ở địa phương còn lớn, Minh Mệnh đã cho phép các “chức thổ quan hiện có trước, hợp lực theo lưu quan để làm việc, sau này có khuyết không phải đền bổ nữa (Nội các Triều Nguyễn 1993: 454).

Cùng với việc bổ nhiệm lưu quan người Kinh, Minh Mệnh còn cho đổi toàn bộ các Mường, Động… thành xã để thống nhất đơn vị hành chính cấp cơ sở trên toàn quốc. Như vậy Minh Mệnh đã “xé nhỏ” các Mường lớn thành 5 - 6, thậm chí 7 - 8 xã, phá vỡ cách tổ chức xã hội truyền thống của xứ Mường.

Đồng thời với tất cả chính sách mạnh mẽ ấy, đến thời Nguyễn - hay nói cho chính xác hơn, đầu thế kỷ 19, dòng tộc lang Mường đã hết vai trò lịch sử, do đó, nghĩa địa dòng tộc cũng mất theo cùng với địa vị của họ.

Đó chính là lý do, ở Mường, sau thời Lê Trung Hưng nghĩa địa dòng tộc không còn nữa, để đến hôm nay, những người đi thực địa điền dã tưởng đâu như mộ Mường cổ đã biến mất sau đó.

Như thế, theo tôi, niên đại dưới của mộ Mường cổ, không chỉ kết thúc vào thế kỷ 17, mà còn kéo dài tận thời Nguyễn, và cho đến sau này, dưới dạng thức đơn lẻ và phân tán.

2. Niên đại trên:

Niên đại trên của mộ Mường cổ cũng không kém phần phức tạp.

Trần Anh Dũng, Vũ Duy Trịnh và Nguyễn Thược, sau kết quả khai quật mộ Phù Cát, huyện Quốc Oai, Hà Tây đã cho rằng niên đại của toàn bộ khu mộ vào thời cuối Trần - đầu Lê, căn cứ vào sưu tập đồ gốm Việt Nam chôn theo trong các mộ - đặc biệt là ngôi mộ số 2 (Trần Anh Dũng, Vũ Duy Trịnh và Nguyễn Thược 1983: 259).

Niên đại này cũng đã được Nguyễn Việt - Đặng Hữu Lưu và Đoàn Đức Thành ủng hộ, qua kết quả đào thám sát ngôi mộ Mường cổ ở Đồi Thung, huyện Lạc Sơn (Hòa Bình) với một sưu tập đồ gốm men ngọc Việt Nam chôn theo (Nguyễn Việt, Đặng Hữu Lưu và Đoàn Đức Thành 1983: 259).

Đặng Kim Ngọc - Trần Anh Dũng - Nhã Long và Vũ Duy Trịnh căn cứ vào sưu tập gốm chôn theo trong các mộ số 1 và 2 Lương Sơn cũng cho niên đại khu mộ này vào cuối Trần đầu Lê (Đặng Kim Ngọc, Trần Anh Dũng, Nhã Long và Vũ Duy Trịnh 1983).

Mãi tới sau này, năm 1986 Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới mới có điều kiện định nhận lại niên đại mộ Mường cổ thông qua một số sưu tập gốm hỗn độn ở Phù Cát và Nhuận Trạch trong một ghi chú nhỏ “Về khu mộ Nhuận Trạch và Phù Cát, trong các tài liệu trên, chúng tôi cho rằng, chúng có niên đại sớm hơn chút ít so với các khu mộ Ngọc Lâu, Đồng Cúi và Đống Thếch. Bộ sưu tập gốm của khu mộ này phần lớn là gốm Trần điển hình, có một số gốm thời Lý, đặc biệt, có cả gốm phong cách thời Bắc thuộc… tiền đồng thấy ở Phù Cát (dẫu chỉ để tham khảo), có ghi niên hiệu “Hy Ninh thông bảo” (1068 - 1076) (Trần Anh Dũng, Lại Văn Tới 1986).

Tôi đã có dịp xem bộ sưu tập gốm của hai khu mộ này tại Bảo tàng Hà Sơn Bình (cũ) thấy nhận xét trên có phần đúng qua niên đại chắc chắn của một số tiêu bản gốm men ngọc, thuộc thế kỷ 13, còn chủ yếu thuộc thế kỷ 14. Đương nhiên gốm Bắc thuộc cho dù là phong cách, cũng chưa hề gặp. Như thế, phải chăng ở Nhuận Trạch và Phù Cát có ngôi mộ thế kỷ 12 - 13 và có mộ thế kỷ 14, nhưng do việc xử lý chữa cháy, trong một sưu tập gốm thu nhặt hỗn độn, các tác giả trên đã không sao phân định rạch ròi được từng mộ, khiến phải định nhận niên đại của toàn khu vào cuối Trần - đầu Lê?

Do sưu tập gốm chủ yếu là đồ gia dụng như bát, đĩa, chậu… nên không thể nói những đồ gốm thời Lý được người đời Trần sử dụng như là những cổ vật, để khi chết chôn theo. Hẳn là, trong phức hợp mộ cổ ở hai khu, phải có mộ có niên đại sớm hơn thời Trần, mà do điều kiện khai quật “chữa cháy” đã không nhận được những đồ gốm thời Lý nằm ở ngôi mộ nhất định nào.

Dẫu vậy, Phù Cát và Nhuận Trạch đã hé mở một niên đại sớm của mộ Mường cổ.

Kết quả khai quật mộ Đống Thếch, Kim Bôi (Hòa Bình) với phương pháp xử lý khoa học, có thể khẳng định cho ghi chú nhỏ trên đây của Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới là có cơ sở.

Khỏi phải đề cập tới 15 ngôi mộ được khai quật ở khu A, bởi những ngôi mộ này được những người khai quật xác định thuộc thế kỷ 17, căn cứ vào văn liệu ghi trên hòn mồ thể hiện chính xác ngày, tháng, năm chết của chủ nhân mộ cùng ngày, tháng, năm chôn của họ (Trịnh Cao Tưởng, Phan Tiến Ba, Lê Đình Phụng, Lê Thị Liên 1983). Văn bia khá phù hợp với niên đại đồ gốm sứ tùy táng và trùng khớp với cấu trúc mộ Ngọc Lâu, Lạc Sơn được định niên đại thế kỷ 17.

Điều đáng quan tâm ở đây là nhóm mộ khu B. Những người khai quật cho đây là mộ giả, mộ tượng trưng, bên cạnh một khu mộ chính là khu A. Thực ra, với tổng số 7 ngôi mộ được khai quật, thì tất cả những dữ kiện để khẳng quyết chúng là những ngôi mộ thực sự, đó là hòn mồ, nhà mồ, huyệt mộ hình chữ nhật (giật nhị, tam cấp hoặc than trải lót quan tài (có hoặc không), đồ tùy táng. Đương nhiên, ở khu này có sự khác lạ so với khu A là hòn mồ. Không hề thấy hòn mồ có khắc chữ ở đây. Các hòn mồ khu B được cắm thành đường thẳng giữa huyệt mộ. Kích thước hòn mồ thấp, chỉ nhô lên khỏi mặt đất 20 - 30cm. Có lẽ, đây là lý do chính làm cho những người khai quật hoài nghi tính xác thực của chúng. Thế nhưng, theo tôi, đây cũng chính là dữ kiện ban đầu khiến cho những ai lâu nay lấy chuẩn mực những mộ thế kỷ 17, là mộ Mường cổ, phải xem xét lại. Đồng thời với cấu trúc này, bộ di vật chôn theo, đặc biệt là đồ gốm sứ, nói rõ niên đại mộ sớm hơn ở khu A rất nhiều.

Xin nêu ra đây thống kê đồ gốm sứ trong các mộ, cùng những đặc điểm cơ bản, độc giả sẽ thấy ngay niên đại của những đồ gốm sứ đó, với những nhận xét cơ bản như sau:

1. Đồ gốm men ngọc chủ yếu của Trung Quốc và Việt Nam, có niên đại thế kỷ 13 - 14.

2. Đồ gốm hoa lam là của Việt Nam với những nét hoa văn đơn giản, màu lam mờ nhạt dưới men, dường như là một đặc trưng được thừa nhận như là gốm hoa lam Việt Nam có niên đại thế kỷ 14.

3. Đồ sành không men khó định nhận niên đại, nhưng là vật dụng phổ biến ở thời Trần, có những rồng đắp nổi, hoa văn đẹp, đi liền với sưu tập gốm men, cùng thuộc thế kỷ 14 là chắc chắn.

Dường như niên đại của đồ gốm chôn trong các mộ khu B khá trùng khớp với niên đại của những đồng tiền muộn có trong các mộ. Sở dĩ có những đồng tiền có niên đại quá sớm như Càn Nguyên hay Thái Bình, là bởi chúng được sử dụng khá lâu dài trong lưu thông buôn bán. Hiện tượng đó không chỉ thấy ở Việt Nam, mà thấy cả trong các mộ táng của Trung Quốc.

Như thế, chí ít, ở khu B Đống Thếch, niên đại mộ phải nằm trong khoảng cuối thế kỷ 13 - đầu thế kỷ 14.

Thế nhưng, hai trong số những người khai quật lại định niên đại cho toàn bộ khu thuộc thế kỷ 17 (Lê Đình Phụng - Phan Tiến Ba 1986; 49).

Theo tôi, niên đại khu B Đống Thếch có thể đính chính được cho niên đại khu mộ Đồi Thung, Phù Cát (Quốc Oai) mà những người thám sát và khai quật đã cho rằng, chúng có niên đại cuối Trần - đầu Lê. Sưu tập gốm chôn theo có thể chắc chắn khẳng định mộ có niên đại thế kỷ 14. So sánh cấu trúc mộ, càng thấy niên đại này là xác đáng.

Thế kỷ 14 chưa phải đã là giới hạn cuối cùng của phức hợp mộ Mường cổ.

Năm 1993, tại Bãi Cời, xã Hùng Sơn, huyện Lương Sơn (Hòa Bình), trong khi đào đất làm móng nhà, nhân dân đã phát hiện ngẫu nhiên một sưu tập gốm sứ, trong đó hoàn toàn là đồ Celadon Tống, gốm hoa nâu thời Lý (Phạm Quốc Quân 1993).

Cho dù đã chịu sự phá hủy nghiêm trọng, không thể biết đích xác được cấu trúc, nhưng với thành phần còn sót lại (những đoạn tường bằng đá, than trải lót), có thể ngôi mộ này rất giống với ngôi mộ ở Gò Lăng Cấm, Hương Nộn, Tam Nông (Vĩnh Phú), được định là của Lê Lan Xuân, thứ phi của Lý Thần Tông (Đặng Kim Ngọc 1977). Sưu tập gốm sứ chôn theo cũng ủng hộ niên đại này.

Như vậy, ghi chú nhỏ của Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới trước đây, tỏ ra còn mơ hồ, thì tư liệu mộ Bãi Cời, cho phép chúng ta khẳng định rằng, mộ Mường cổ có niên đại thế kỷ 12 - 13.

Quả thật, cho đến nay, đây là ngôi mộ sớm nhất trong phức hợp mộ Mường cổ, với tình hình tư liệu hiện biết. Những đốm sáng hé ra một niên đại xa xưa hơn, tôi chưa được thấy, dù chỉ là những mảnh gốm sứ lẫn trong hàng nghìn, hàng vạn tiêu bản gốm sứ được lấy lên từ những ngôi mộ cổ Mường, mà tôi đã từng tiếp xúc qua các sưu tập của bảo tàng và của tư nhân.

Như thế, giới hạn niên đại trên của mộ Mường cổ sớm nhất cũng chỉ thuộc vào thời Lý.

II. NIÊN ĐIỂM TÁCH RA CỦA NGƯỜI MƯỜNG.

Như chúng ta đã biết, dường như cho đến nay, không một ai trong giới nghiên cứu phủ nhận người Việt cổ là tổ tiên trực tiếp của người Mường. Kết luận ấy đã được thừa nhận ở một vài thập niên trước, mà gần đây, được các nhà nghiên cứu chứng minh thêm qua những “hóa thạch” của thời Đông Sơn còn sót lại trong nghệ thuật trang trí và kiến trúc Mường (Trần Từ 1975).

Thế nhưng, những người con cháu trực tiếp ấy tách khỏi tổ tiên của họ từ bao giờ để hình thành nên một tên Mường với tư cách là một dân tộc độc lập, thì cho đến nay, cũng không ít những công trình nghiên cứu được tiếp cận từ lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ học lịch sử…, mà vẫn chưa tìm được thời điểm thỏa đáng.

Nguyễn Lương Bích, nhà sử học uyên thâm đã quá cố, có một luận văn chi tiết về vấn đề này từ những năm 70. Ông cho rằng, tên gọi Mường xuất hiện sớm nhất cũng chỉ từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, để chỉ các khu vực hành chính những địa phương miền núi, tương đương với một châu, một huyện hay một xã lớn, không có danh từ “Mường” để chỉ người hoặc tộc người.

Dường như ông cũng không thừa nhận có một thời điểm tách ra của người Mường khỏi khối Việt - Mường. Trong lịch sử Việt Nam, người Mường và Việt chỉ là một dân tộc, đó là dân tộc Việt miền núi và dân tộc Việt đồng bằng.

Từ Mường hay “sự tách biệt thành dân tộc Mường có thể chỉ là một quy định hành chính theo chính sách chia để trị của thực dân Pháp, cách ngày nay chưa đầy một trăm năm (Nguyễn Lương Bằng 1974).

Như vậy, cho dù còn khiên cưỡng, ông cũng chỉ thừa nhận dân tộc Mường chỉ là sản phẩm của chính sách chia để trị của thực dân Pháp.

Không phải lấy định nghĩa của Stalin làm đối chiếu, mà chỉ dựa trên những dữ liệu về ngôn ngữ học, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần…, cũng đã thấy người Mường sớm hình thành một dân tộc. Quan điểm của Nguyễn Lương Bích, theo tôi, chưa có sức thuyết phục.

Cũng có ý kiến cho rằng, người Mường tách ra thành dân tộc, có thể từ thế kỷ 10, căn cứ vào mấy tiếng Cử Long man mà các thời Đinh – Lê - Lý đã dùng để chỉ người Cử Long. Cử Long sau này là Cổ Lũng (nay là huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa), quê hương của Hà Thọ Tường, người đã giúp sức vào việc trung hưng nhà Lê, được phong chức Tứ Đô, tước Thụy Quận Công. Ý kiến này lý giải rằng thời Đinh - Lê - Lý gọi người Cử Long là Cử Long man, có nghĩa coi người Cử Long là một dân tộc Man di, một dân tộc thiểu số, không phải dân tộc Việt.

Thực ra, đây cũng không thể là câu để tìm thời điểm tách ra của người Mường khỏi khối Việt - Mường vì tính giản đơn của suy luận. Bởi chữ “Man”, “Mãnh”, “Mang” đều là phiên âm của chữ Hán thành Mường trong các thư tịch cổ Việt Nam. Như thế, người Thái, người Mường… đều có thể là “Man”. Đó là chưa kể có sự nhầm lẫn nào chăng giữa âm và nghĩa giữa địa danh và tộc người.

Vấn đề được gợi mở, nhưng đầy phức tạp, mà nội dung bài viết không muốn, hay đúng hơn, không có khả năng đề cập. Dầu vậy, thế kỷ 10, được coi như một loại ý kiến về niên điểm tách ra giữa người Mường và người Việt cổ.

Cùng chung với quan điểm này, trong cuốn sách gần đây nhất, Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng tiếp cận từ góc độ lịch sử, văn hóa và văn minh, cho rằng thời điểm thích hợp nhất của sự tách ra của hai dân tộc là thế kỷ 10 - thế kỷ bản lề của dân tộc (Trần Quốc Vượng 1981).

Tôi cũng không dám đi sâu để bình xét, bởi sự tiếp cận từ nhiều hướng, nhiều chiều trên tinh thần của khoa học đa ngành, dẫn đến những kết luận, thì quả là sức thuyết phục không nhỏ… Bởi thế tôi chỉ dám tiếp nhận những thành quả ấy để coi như một hệ quả, rồi soi rọi qua tư liệu của mình - mà dưới đây sẽ trình bày kỹ - xem thời điểm ấy có thích hợp hay không?

Tiếp cận từ ngôn ngữ lịch sử, Giáo sư Hà Văn Tấn và sau này Hà Văn Tấn và Phạm Đức Dương đã đưa ra một lược đồ, mà trong đó thể hiện các chặng mốc tách ra của ngôn ngữ (Hà Văn Tấn 1976; Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương 1978), mà theo tôi hiểu, cũng là sự tách ra của hai dân tộc độc lập.

Cho dù tôi không hiểu gì về ngôn ngữ, song có lẽ do có nhiều lớp từ chồng xếp khiến khó có thể bóc tách rành rẽ thời điểm cụ thể của từng chặng mốc trên lược đồ, khiến cho hai ông không đưa niên điểm cụ thể. Cũng có thể, ngôn ngữ chỉ là một hướng tiếp cận, mà còn nhiều hướng khác có thể bổ sung, nên đã bỏ ngỏ cho những người đi sau rộng đường tìm hiểu.
Có lẽ đó chính là lý do để tôi dám mạo muội đặt phần tìm hiểu niên điểm tách ra của người Mường khỏi khối Việt - Mường chung là một phần trọng tâm của bài viết.Cho dù tôi không hiểu gì về ngôn ngữ, song có lẽ do có nhiều lớp từ chồng xếp khiến khó có thể bóc tách rành rẽ thời điểm cụ thể của từng chặng mốc trên lược đồ, khiến cho hai ông không đưa niên điểm cụ thể. Cũng có thể, ngôn ngữ chỉ là một hướng tiếp cận, mà còn nhiều hướng khác có thể bổ sung, nên đã bỏ ngỏ cho những người đi sau rộng đường tìm hiểu.

Cũng từ hướng ngôn ngữ, Nguyễn Văn Tài cho rằng tiếng Việt và tiếng Mường tách nhau vào khoảng thế kỷ 7 hoặc 8 sau Công nguyên (Nguyễn Văn Tài 1978).

Trong một bài viết gần đây nhất, Giáo sư Hà Văn Tấn dường như ủng hộ quan điểm này, đồng thời như có ý bổ sung cho lược đồ của mình. Ông viết: “Văn hóa Đông Sơn tồn tại ở miền Bắc Việt Nam từ giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến khoảng thế kỷ 2 sau Công nguyên, có thể một phần lớn cư dân Đông Sơn nói ngôn ngữ Việt - Mường chung. Điều này không loại trừ một bộ phận cư dân của văn hóa này nói ngôn ngữ Thái (Hà Văn Tấn 1991).

Lược trích những ý kiến của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, văn minh, ngôn ngữ học… đủ thấy rằng, tìm được thời điểm tách ra của dân tộc Mường khỏi khối Việt Mường chung là rất khó khăn. Làm được việc đó với một sức vóc như tôi lại càng mạo hiểm và khó khăn hơn. Vì lẽ đó, như đầu đề bài viết, tôi cũng chỉ dám thử tìm, với một hướng tiếp cận từ tư liệu mộ táng.

Dù còn có băn khoăn, nhưng có thể chắc chắn rằng, thời Lý, người Mường đã có mộ táng. Có một điều đáng tiếc là, cũng vào thời gian này, mộ người Việt dưới vùng xuôi hiếm hoi một cách kỳ lạ (Phạm Quốc Quân 1991). Cho đến nay, tôi vẫn chưa tin rằng, ngôi mộ trên núi Thiên Thai (Hà Bắc) có niên đại thời Lý bởi sự thiếu vắng đồ tùy táng, bởi sự lạ lẫm trong cấu trúc (Trịnh Cao Tưởng - Trần Đình Luyện và Phan Tiến Ba 1976). Những người khai quật cho đây là mộ giả - mộ xây dựng trước, như truyền thuyết dân gian trong vùng đã lưu truyền. Nếu là mộ giả, hẳn dấu ấn thời gian còn đọng hằn trong cấu trúc. Ngôi mộ dường như có lối cấu trúc hao hao mộ gạch Hán đầu Công nguyên (đương nhiên chỉ ở lối chia ngăn, cửa cuốn vòm), mà không hề giống bất cứ một kiểu mộ nào trong phức hợp mộ táng cổ Việt Nam. Phải chăng, đây là ngôi mộ đặc biệt mang tính biệt lệ của ông quan đầu triều Lý - Thái sư Lê Văn Thịnh? Như vậy, chỉ còn ngôi mộ duy nhất ở Gò Lăng Cấm, Hương Nộn, Tam Nông (Vĩnh Phú) có thể tin được là thời Lý bởi truyền thuyết và bia ký còn ghi rõ mộ của Lê Lan Xuân, thứ phi của Lý Thần Tông.

Có thể coi đây là tư liệu đáng tin cậy về mộ Lý, dù là của tầng lớp trên của xã hội đương thời, thì tôi vẫn thấy sự phảng phất - chính xác hơn là sự tương đồng với cấu trúc mộ Mường cổ tìm thấy ở Bãi Cời, xã Hùng Sơn, Lương Sơn (Hòa Bình). Dẫu cả hai ngôi đều bị phá hủy, nhưng những tàn tích còn sót lại như than trải dầy, đá cuội vây quanh thành hộp quách dường như là đồng dạng phối cảnh.

Dù ở xuôi hay ở núi, loại mộ thời nay chỉ rất ít ỏi, nhưng đã cho tôi một cảm nhận rằng, không có sự khác biệt nhiều lắm giữa Việt và Mường. Như thế, phải hiểu rằng, đến thế kỷ 12, quan niệm về cõi chết, về “ngôi nhà” cho người quá cố, không có sự khác biệt nhiều giữa hai vùng.

Dưới góc nhìn rất hẹp, chỉ ở cấu trúc mộ cùng thành phần tham gia tạo nên cấu trúc, tôi nghĩ rằng, thế kỷ 12, 13 mới chỉ là khởi đầu cho sự tách Mường khỏi khối Việt Mường chung. Chính là khởi đầu nên tâm thức tín ngưỡng và kiến trúc mộ vẫn trọn giữ như của người Việt. Sang thế kỷ 14, cũng từ góc nhìn mộ táng, tôi thấy đã có sự khác hẳn giữa mộ Việt và mộ Mường, cho dù những mẫu số chung vẫn còn giữ được từ tổ tiên trực tiếp của họ.

TS. Phạm Quốc Quân

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 244

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Trang trí trên ngói thời Lý

Trang trí trên ngói thời Lý

  • 18/11/2019 10:16
  • 106

Giới thiệu chung