Thứ Ba, 12/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

29/10/2019 09:51 49
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Năm 1974 mộ Mường cổ bắt đầu thu hút sự chú ý của giới khảo cổ học, thông qua một bài viết ngắn của Đỗ Văn Ninh1. Đến nay, thời gian trôi đã được hơn một thập kỷ, sự quan tâm chú ý ấy được thể hiện cụ thể qua hàng loạt những cuộc khai quật các khu mộ Mường ở Ngọc Lâu (huyện Lạc Sơn), Phù Cát (huyện Quốc Oai), Dũng Phong (huyện Kỳ Sơn), Nhuận Trạch (huyện Lương Sơn) và Đống Thếch, Đồng Cúi (huyện Kim Bôi). Cho dù hết sức ngẫu nhiên, những khu mộ Mường ấy đã đại diện cho bốn mường lớn của tỉnh Hòa Bình (cũ): Bi, Vang, Thàng, Động. Từ kết quả của những đợt khai quật, đã có một số bài nghiên cứu, ít nhiều mang tính tổng kết2. Tuy nhiên, mọi kết luận, đến nay, xem ra đều chưa có sức thuyết phục, khi tư liệu mới chỉ dừng lại qua những đợt khai quật mộ Mường cổ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, trong khi còn cả một khối Mường lớn ở Thanh - Nghệ và Vĩnh Phú chưa hề được quan tâm. Nói như thế, phải chăng còn phải đợi chờ tư liệu thêm ở những vùng đó rồi mới tiếp tục luận bàn? Hẳn sẽ rất lý tưởng nếu thực tế ấy có được trong một tương lai gần. Song với hoàn cảnh hiện tại, còn lâu ta mới có đủ trong tay toàn bộ tư liệu như mong muốn. Vì lẽ đó, bài viết này của chúng tôi cũng chủ yếu dựa vào các khu mộ Mường cổ của tỉnh Hà Sơn Bình, để đưa ra một số ý kiến ít nhiều mang tính giả định và có ý nghĩa về mặt phương pháp của những vấn đề chủ yếu thuộc mộ Mường cổ, đó là: cấu trúc, táng tục và niên đại.

 

Khu mộ cổ Đống Thếch (nguồn Internet)

1. Cấu trúc: Dường như ai quan tâm đến mộ cổ Mường, đều thừa nhận rằng, cấu trúc của chúng chủ yếu gồm hai phần và bốn bộ phận. Cấu trúc bên trên có các cột đá quây quanh huyệt và nhà mồ. Cấu trúc bên dưới có huyệt mộ chữ nhật, than trải lót, có hoặc không có quách gỗ hình cũi và quan tài. Đương nhiên, giữa các mộ cũng có những dị biệt nho nhỏ (có hoặc không có mộ đạo, gia cố lon sành ở đáy huyệt hoặc đặt lon sành trên huyệt...).

Để thuận lợi khi đề cập tới những vấn đề cụ thể, xin bắt đầu từ cấu trúc bên dưới. Có lẽ cũng chẳng phải nhiều lời khi Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới đã có những phân loại sơ bộ và đưa ra những đại biểu để chứng minh cho sự khác nhau chi tiết giữa các mộ3. Đương nhiên, đó cũng chỉ là những dị biệt của một tập hợp hay vài tập hợp mộ đã được khảo sát và khai quật ở vùng Mường Hà Sơn Bình. Bài này, chúng tôi bỏ qua những chi tiết ấy, chỉ xin lưu ý tới một vài bộ phận mang tính đặc thù của cấu trúc bên trong.

Ngoài những đặc điểm chung là huyệt hình chữ nhật, than trải lót, hiện nay, điều gây nhiều ý kiến thảo luận nhất là có hay không có quan quách? Nếu có thì loại hình của chúng ra sao? Đó là những băn khoăn, khi tất cả các mộ chỉ còn để lại những bằng chứng gián tiếp và mờ nhạt. Theo đó, ý kiến về vấn đề này còn mang nặng tính giả thuyết trong bối cảnh đất đai ở vùng đồi núi bị mối mọt phá hủy dữ dội qua một thời gian dài lâu, nhiều thế kỷ.

Giờ đây, với một tập hợp vài chục mộ trong tay, tuy dữ kiện chưa đầy đủ nhưng có thể chắc chắn khẳng định rằng, không thể lấy tư liệu của một ngôi mộ, thậm chí vài ba ngôi mộ, ở một khu vực nhất định nào, để khái quát những yếu tố cấu thành nên kiến trúc của cái gọi là mộ Mường cổ. Chúng tôi đã có lần suy dựng một loại hình cấu trúc mộ thông qua những chiếc đinh đồng hình chữ U4. Giả thiết của chúng tôi cũng đã được nhiều đồng nghiệp thừa nhận. Cũng giống như bối cảnh trên, Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới còn thông tin về một mô hình tháp đất nung tìm thấy trong ngôi mộ số 2 Phù Cát, khiến ta gợi nhớ đến một cấu trúc tương đồng với ngôi mộ thời Trần ở Xuân Hồng (Nghệ Tĩnh)5 và Dương Phú (Hải Hưng)6. Đó chỉ là hai cá thể của một tập hợp mộ táng - có khi chỉ của một khu mộ chứ chưa đại diện cho tất cả các khu mộ. Tình hình ấy cũng diễn ra y hệt đối với các giả thiết về quan tài.

Năm 1976, Đỗ Văn Ninh và Nguyễn Đình Chiến đã cho biết ở khu mộ Ngọc Lâu (huyện Lạc Sơn) có quan tài thân cây khoét rỗng (quan tài thuyền), qua quan sát một lát cắt vòng cung hình thân cây còn để lại trong lớp than7. Sau đó, Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới căn cứ vào một mảnh đáy quan tài còn lại trong ngôi mộ số 4 Phù Cát (huyện Lương Sơn) cũng đã khẳng định mộ Mường cổ có quan tài8. Rồi, Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba thông qua kết cấu của mộ số 17 Đống Thếch (huyện Kim Bôi) với những mảnh gỗ nát, cũng khẳng định mộ Mường cổ có quan tài thân cây khoét rỗng9. Song chẳng phải suy luận nhiều, sự có mặt đích thực của chiếc quan tài thuyền ở ngôi mộ số 2 ở Bộ Mu (huyện Kim Bôi), khai quật cuối năm 198710, khẳng định một cách chắc chắn rằng, ở mộ Mường cổ, đã từng có mặt loại hình quan tài thuyền.

Trước đây, dường như chúng tôi không tin vào sự có mặt của những quan tài trong mộ Mường cổ. Nhưng đến nay, với những tư liệu mới, có thể khẳng định chắc chắn rằng, mộ Mường cổ đã từng tồn tại một loại hình cấu trúc với sự tham gia của quan tài thuyền, mà theo tôi, không chỉ là quan tài thuyền. Đương nhiên, đó còn là những vấn đề phụ thuộc nhiều vào niên đại, thời gian tồn tại của mỗi mộ và mỗi khu vực mộ.

Chúng tôi cho rằng, hiện tượng có quan tài thuyền trong mộ không phải là phổ biến trong một khu mộ, chưa nói đến tất cả các khu mộ. Do vậy, mọi kết luận mang tính khái quát, đều chưa hoàn toàn đúng với tình hình tư liệu của các khu mộ Mường cổ cung cấp. Chúng tôi đinh ninh rằng người Mường tách khỏi khối Việt chung (mà ý kiến của các nhà ngôn ngữ cho là từ thế kỷ thứ 8, các nhà văn hóa và sử học cho vào khoảng thế kỷ 10). Cứ tạm chấp nhận sự co giãn ấy, thì lúc này nền văn hóa Đại Việt đã bắt đầu định hình, để phát triển rực rỡ vào những thế kỷ tiếp sau, lúc mà mộ Mường tồn tại nhiều nhất. Nếu như vậy thì, về mặt cấu trúc mộ, khoảng thời gian đầu, chịu ảnh hưởng của người Việt là đương nhiên. Sự ảnh hưởng ấy nhận ra qua cấu trúc quách gỗ hình cũi, mộ kiểu tháp (Nhuận Trạch), than trải lót (ở tất cả các mộ Mường cổ). Dần dần, do sự dồn đẩy vì lý do lịch sử và dân số, người Mường ngày một lên cao, sống xen cài với một số dân tộc khác nữa, nên chắc chắn đã hội nhập nhiều yếu tố văn hóa mới – mà, trong đó, cấu trúc mộ táng không thể không ảnh hưởng. Nói như vậy, chúng tôi vẫn bảo lưu ý kiến cho rằng, sự ảnh hưởng trong táng tục Mường đối với người Thái - đặc biệt là Thái Đen là có cơ sở11.

Cũng chính bởi thế, chúng tôi tin rằng, cấu trúc bên dưới của mộ Mường cổ còn có thể phong phú hơn so với tình hình tư liệu mà chúng ta được biết cho đến nay. Do vậy, theo chúng tôi, việc nghiên cứu kỹ lưỡng và phân định được rạch ròi niên đại của từng mộ, của từng khu mộ là vô cùng cần thiết, để từ đó, có một cái nhìn biện chứng và khách quan. Người Việt (Kinh) trong dặm dài lịch sử của mình, đã bao lần đổi thay cấu trúc và táng thức mộ, và từ đó, cũng bao lần hội nhập những yếu tố mới vào trong lòng để làm phong phú và đa dạng nền văn hóa của mình. Đó dường như là một tất yếu lịch sử của bất cứ một dân tộc nào chịu nhiều đổi thay và biến động. Bây giờ xin bàn đến những vấn đề thuộc cấu trúc bên trên.

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với những người cho rằng, tất cả những khu mộ Mường cổ đều có nhà mồ. Mộ của người giàu sang thì nhà khung gỗ, lợp ngói. Mộ của người bình thường thì nhà bằng khung tre, nứa, lợp lá. Những thông tin như thế, còn thấy được qua tất cả các khu mộ Mường cổ, kể cả ở Dũng Phong (huyện Kỳ Sơn) mà chưa thấy ai nhắc đến. Cũng như ở mộ số 2 Bộ Mu (huyện Kim Bôi) mới khai quật gần đây12.

Bài này, chúng tôi không bàn đến những vấn đề dường như đã nhất trí, tương tự như đã nêu, mà chỉ muốn đề cập tới ý nghĩa của những cột đá (hòn mồ) cắm quanh huyệt mộ, cao từ 1m đến 5m.

Đã có nhiều ý kiến nói về chức năng của những cột đá, song, chúng tôi đặc biệt lưu tâm tới ý kiến cho rằng những cột đá có liên quan tới phần hồn13.

Chúng tôi chưa có dịp khảo sát hết các Mường để tìm ra những thông tin ảnh xạ về mối quan hệ giữa các cột đá ấy với linh hồn, hoặc giữa chúng (đi liền với chủ nhân mộ) với người sống khi họ còn chung sống với nhau trong xã hội Mường cổ. Dù chưa hết, nhưng đa số người Mường hiện nay đều cho rằng, vị trí các cột đá chôn ở đầu có liên quan đến phần hồn, còn các cột chôn ở tay phải có liên quan tới các vía. Các già làng còn kể cho chúng tôi nghe về những hồn người nhảy múa trên các cột đá ở bãi tha ma (chỉ nghĩa địa cổ). Những hồn ấy thường hiện về vào những đêm trăng xuông, trở trời. Trần Từ, một nhà dân tộc học có thâm niên khảo sát Mường, cũng cho rằng, khi bị cắt đứt sợi dây với cõi sống, hồn ma thường đứng trên hòn mồ nhìn về bản Mường trong những chiều sương mù.

Khi xem xét những dòng ghi chép của Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới14, chúng tôi thấy những cột đá ấy dường như còn là một công trình tưởng niệm của người sống đối với người quá cố. Luật lệ nhà lang họ Quách ở Kim Bôi cũng còn ghi: “Quan lang mất nhà nào cũng để tang như để tang bố mẹ đẻ, xây nhà mồ, mộ đá, xung quanh có hàng rào gỗ”.

Như vậy là, dù còn ít ỏi, nhưng đã có thể nhận ra rằng, các cột đá xây xung quanh mộ cổ Mường chính là nơi trú ngụ của linh hồn, và chính chúng cũng là công trình tưởng niệm của người sống đối với người thân đã quá cố, có địa vị giàu sang lúc sinh thời.

Đá được coi là một công trình tưởng niệm và là nơi cư ngụ của linh hồn không chỉ tồn tại trong quan niệm của người Mường. Ở hầu hết các dân tộc Phương Đông, thông qua các văn liệu của các học giả phương Tây như T. Harrisson, P. Mus... đều cho đá là nơi cư ngụ của linh hồn và đồng thời cũng là nơi bảo vệ linh hồn người chết sang thế giới bên kia15. Đặc biệt các dân tộc ở miền núi Đông Dương coi đá như một công trình tưởng niệm những người giàu có đã quá cố là khá phổ biến. Và, bằng nhiều phân tích, đối chiếu kỹ lưỡng, các học giả trên đều khẳng định rằng, những công trình đá như thế, thực chất là những công trình cự thạch mang tính chất mai táng. Việc dựng cự thạch mai táng bắt nguồn từ một tư tưởng chung là niềm tin vào linh hồn.

Trên những dữ kiện của những tài liệu khảo sát thực địa cùng với những so sánh tham khảo của một số dân tộc Phương Đông, chúng tôi tin rằng những cột đá ở quanh các mộ Mường cổ có liên quan đến tín ngưỡng cự thạch. Điều này, chúng tôi đã hai lần nhắc tới trong các bài viết16.

Tuy nhiên, theo các tư liệu được tiếp xúc thì, các công trình cự thạch thường quan hệ rất chặt chẽ với các tục cải táng. Khảo sát của T. Harrisson về người Karabit ở đảo Kalimantan đã cho rằng, sự cải táng và việc dựng các cự thạch ở đó có những khái niệm về sự du lịch của người chết sang thế giới bên kia17.

Nhưng thông thường tục cải táng lại liên quan đến nghi lễ “giữ” và “bỏ mồ”. Hai nghi lễ này nằm trong quá trình của tục cải táng. Các học giả phương Tây cho rằng, có hai nghi lễ này vì dựa trên cơ sở của quan niệm, người chết còn linh hồn nên phải có giai đoạn “giữ mồ” – tức là chăm sóc người chết. Ở các dân tộc Indonesien núi hay Môn – Khơ me, việc chăm sóc người chết được tiến hành như sau: Ở quan tài, ngay nơi đặt đầu người chết, người ta cắm một ống tre vào, một đầu kia chìa lên khỏi mặt đất. Thức ăn, rượu theo ống tre đó xuống mồ. Người Eđê làm hai ống thông, một ống cho uống rượu, một ống cho thức ăn. Người Jarai cho ống tre cắm xuống đầu, họ hàng thân thuộc thường đến mộ đó hút thuốc bằng ống điếu của người chết và thả khói qua ống tre ở mộ. Ngoài các dân tộc ở Việt Nam, một số dân tộc ở hải đảo và Miến Điện cũng tồn tại tục này.

Vậy thì, ở người Mường có tồn tại tục này không? Cho đến nay, các tài liệu dân tộc học cho hay, người Mường chăm sóc người chết bằng cách đặt thức ăn uống, trong nhà mồ để người chết lên ăn. Công việc đó được tiến hành trong thời gian dài. Ngoài thức ăn, nhà mồ còn được treo nhiều quần áo (đương nhiên chỉ là vàng mã, theo quan sát ngày nay) để người chết lên thay. Thế nhưng, tục này không đi liền với cải táng – theo tư liệu dân tộc học cung cấp. Còn đương thời người Mường cổ có tục cải táng hay không thì vẫn là ẩn số đối với khảo cổ học và dân tộc học lịch sử.

Nếu như thế, cự thạch mang tính chất mai táng ở Mường cổ không liên quan tới tục cải táng (như hiểu biết hiện nay), thì phải chăng, đó là trường hợp biệt lệ hay là sự không đồng bộ, như các học giả Phương Tây quan niệm? Cũng có thể cự thạch ở mộ Mường chỉ còn là những tàn dư, nên thiếu những dữ kiện cần thiết của những công trình cự thạch mai táng chân chính. Và, cũng có thể rằng, gán ghép cho các cột đá quanh huyệt mộ cổ ở Mường là tàn dư của những công trình cự thạch mai táng là khiên cưỡng, nên đã có những “lệch pha”? Đó là tất cả những dấu chấm than lớn, mà tác giả bài này muốn nêu ra để cùng nhau suy nghĩ và trao đổi.

2. Táng tục: Cho dù còn chưa thật đầy đủ, Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới đã cho chúng ta biết, chủ yếu là táng thức, của người Mường cổ, bắt đầu từ lúc chết cho đến khi chôn, rồi những yếu tố đồng nhất và dị biệt giữa các mộ, thông qua các tài liệu khảo cổ học có vận dụng những ánh sáng của tư liệu dân tộc học soi rọi. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ muốn lưu ý tới một khía cạnh rất nhỏ của táng tục, lâu nay thường được trao đổi, đó là: người Mường có hung táng hay hỏa táng.

Trước đây, thông qua kết quả khai quật mộ Mường Thàng ở Dũng Phong (huyện Kỳ Sơn), chúng tôi giả thiết người Mường ở thế kỷ 16, khi chết được hỏa thiêu. Táng tục hỏa thiêu này nằm ngoài Phật giáo, có liên quan tới tín ngưỡng của người Thái Đen18.

Đỗ Văn Ninh, cho dù không trực tiếp bàn đến táng tục, nhưng cũng có ý cho rằng người Mường cổ khi chết được hung táng19.

Gần đây, Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới, Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba, căn cứ vào vết tích quan tài và một số xương chưa được giám định thành phần sinh học, đã đi đến kết luận rằng người Mường cổ không có hỏa thiêu20.

Thực tế khai quật khảo cổ học ngôi mộ số 2 ở Bộ Mu (huyện Kim Bôi), cho hay, người chết được hung táng với chứng tích: tro than lẫn với xương người được tìm thấy trong quan tài. Đáy quan tài còn cậy ra được một lớp trạt vôi khá dầy, di tích của một phong tục giữ xác khỏi bị phá hủy, trong quá trình quàn trong nhà hay chôn dưới đất. Đó cũng là một tư liệu duy nhất cùng với các tư liệu dân tộc học về táng tục Mường cho hay, người Mường cũng đã từng tồn tại phong tục không có cải táng.

Bởi lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng, sẽ rất sai lầm nếu chỉ căn cứ vào kết quả của từng mộ, thậm chí của từng khu mộ để đi đến kết luận chung về táng tục của người Mường, trong khi cấu trúc bên dưới mộ, như đã được trình bày là khá đa dạng. Hơn thế, chúng ta có đủ tư liệu trong tay về sưu tập đồ gốm, trống đồng, tục trải than lót, quách gỗ hình cũi, chôn kiểu tháp...để nhìn ra mối quan hệ của người Việt (Kinh) với người Mường, qua những lát cắt thời gian, thì những ảnh hưởng qua lại lẫn nhau (cũng có thể chỉ ảnh hưởng một chiều), về táng tục, nhất định phải xảy ra. Nếu đúng như thế, theo chúng tôi, táng tục ở Mường thời cổ là khá đa dạng. Tình hình ấy chắc chắn cũng chẳng khác gì cấu trúc bên dưới của chúng, đã từng thay đổi và đa dạng như đã phân tích. Đương nhiên, táng tục đôi khi mang tính thời đại. Vì lẽ đó, vấn đề làm rõ từng mộ hay khu mộ sẽ có đóng góp đáng kể để nhìn nhận kỹ lưỡng hơn táng tục cũng như cấu trúc bên dưới của mộ. Nhân đây, chúng tôi cũng lưu ý tới vị trí địa lý hiện tại của từng khu mộ, nếu làm được kỹ, cũng là những gợi mở, để tìm hiểu sâu hơn cấu trúc cũng như táng thức của người Mường cổ.

Chúng tôi nghĩ tài liệu dân tộc học chỉ nên coi là những tham khảo cần có, trong vấn đề này, bởi sự chuyển đổi về quan niệm của mỗi dân tộc đối với cõi chết là luôn thay đổi do tự thân và do du nhập.

Nhân đây, chúng tôi muốn lưu ý tới một hiện tượng mà có lẽ đã hơn một lần chúng tôi lưu ý, nay xin nhắc lại rằng, tục hung táng, thường thường đi liền với quan tài. Nhưng, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, như thời tiền sử chẳng hạn – không hề có quan tài – mà người chết vẫn được chôn nằm co, bó gối trong huyệt tròn. Trong khi đó, nhiều ngôi mộ thuộc thế kỷ 13 – 14 của người Việt (Kinh) dù có cấu trúc quách gỗ hình cũi bao quanh, và quan tài bên trong, nhưng táng thức vẫn là hỏa thiêu. Những ngôi mộ ở Phú Minh (Hà Nội), Phạm Lễ (Thái Bình)... là những ví dụ.

Như vậy, những chứng cứ về quan tài ở ngôi mộ số 4 Phù Cát và 17 Đống Thếch là hoàn toàn không có sức thuyết phục để chứng minh cho tục hung táng của người Mường cổ, dù rằng, chứng cứ tiếp theo quan tài là một số mảnh xương (không được giám định). Nhưng nếu giả thiết rằng, những mảnh xương ấy đã được giám định thành phần sinh học, thì cũng chưa thể kết luận khi chúng tôi đã nhạt được những mảnh xương người khá lớn trong một ngôi mộ ở Dưỡng Phú (Hải Hưng) chắc chắn được hỏa thiêu21. Tình hình ấy cũng giống như khi nhặt được một số mảnh xương trong một ngôi mộ Mường cổ ở Dũng Phong (huyện Kỳ Sơn)22 mà chúng tôi cho đó là những mảnh xương còn sót lại khi đốt chưa hết.

Vì những lẽ ấy, chúng tôi nghiêng nhiều về khả năng, người Mường có nhiều táng tục. Và, những táng tục này đậm nhạt khác nhau qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, mà dưới đây, phần trình bày về niên đại, may chăng sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn.

3. Niên đại: Như chúng tôi đã đề cập tới đôi nét ở phần trên, dù rằng, mới chỉ thông qua một số tư liệu còn mỏng manh nhưng vẫn thấy cấu trúc bên dưới của những mộ cổ ở Mường là đa dạng. Sự đa dạng ấy gợi ý cho việc định niên đại và ngược lại. Bởi lẽ đó, việc làm rõ niên đại của mỗi mộ là rất cần thiết trong phương pháp khai quật.

Dường như lâu nay, vốn có định kiến về niên đại mộ Mường cổ, thông qua các văn bản ghi trên các cột đá nên các đợt khai quật ít quan tâm đến hiện vật tùy táng, để qua đó làm rõ niên đại mộ - từng mộ. Nói như vậy, chúng tôi muốn, lưu ý tới khu mộ Đống Thếch (huyện Kim Bôi).

Đợt khai quật năm 1984, với 13 ngôi trong toàn khu được phát quật. Những người chủ trì đã phân loại di vật – đặc biệt là đồ gốm – một tiêu chí quan trọng để định niên đại mộ thành các nhóm sau:

- Nhóm hiện vật thế kỷ 11 – 13.

- Nhóm hiện vật thế kỷ 15 – 16

- Nhóm hiện vật thế kỷ 1723.

Xem ra, chỉ thông qua đồ gốm, cũng đã thấy một khung niên đại khá rộng, suốt từ thế kỷ 11 – 17. Nhưng, những người khai quật đã dựa vào đa số, theo tỷ lệ thống kê của đồ gốm thế kỷ 17 để định niên đại cho toàn khu thuộc thế kỷ 17.

Theo chúng tôi, đó là một phương pháp làm chưa đúng. Để có một sự hiểu biết thật chính xác, phải xem xét di vật ở từng mộ, trên cơ sở đó, định niên đại cho mỗi mộ. Chúng tôi vẫn có một cảm giác rằng, sự có mặt của đồ gốm thế kỷ 1124 như đã phân loại thì, cho dù, các quan lang Mường có ý thức giữ gìn đến đâu chăng nữa, xã hội Mường cổ truyền dù có thanh bình đến đâu đi chăng nữa, thì cũng không bảo lưu được “đồ cổ” qua 6 thế kỷ, để đến lúc chết lại chôn những tài sản ấy25.

Chắc chắn rằng, với một khu mộ rộng lớn và dày đặc như Đống Thếch, không thể chỉ có niên đại thế kỷ 17 cho toàn bộ khu mộ. Chắc chắn rằng, nó phải có cái sớm và cái muộn, nếu như công cuộc khai quật được tiến hành kỹ lưỡng và số lượng mộ được khai quật nhiều hơn, thì chúng ta sẽ làm rõ được điều đó.

Làm được một cách chính xác niên đại của từng mộ, hoặc từng khu mộ, sẽ còn nhìn ra được sự ảnh hưởng Trung Hoa của các quý tộc Mường, thông qua sưu tập hiện vật chôn theo, giữa từng thế kỷ có mức đậm nhạt khác nhau, mà những khu mộ được khai quật đã có nhiều gợi mở. Cũng dựa trên phương pháp ấy, có thể nhìn ra mức độ tiếp thu văn hóa Trung Hoa của các đẳng cấp quý tộc Mường cũng khác nhau. Quý tộc càng lớn và giàu sang, mức độ ảnh hưởng càng đậm.

Chính vì lẽ đó, việc dựng được khung niên đại cho từng khu mộ là quan trọng, để từ đó nhận nhìn các mặt trên đây được khách quan và cụ thể.

Chúng tôi dường như đồng tình với Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới cho rằng, khung niên đại của khu mộ Phù Cát là từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18. Có lẽ, khung ấy không chỉ dành riêng cho Phù Cát mà đó là khung chung, phổ biến cho các khu mộ Mường cổ đã được biết cho tới nay. Vấn đề là, giờ đây, cũng như sau này, công cuộc khai quật phải được tiến hành thật chu đáo, công việc phân loại phải thực khách quan, may chăng mới giải quyết được những vấn đề tồn nghi đang đặt ra trước vấn đề niên đại của mộ Mường cổ nói riêng, và các vấn đề mộ Mường nói chung.

Vậy là, chúng tôi đã đưa ra, dù là chưa hết những nhận xét quanh những vấn đề về mộ Mường cổ. Nói là những nhận xét, e rằng, hơi xa với nội dung, bởi nhiều ý, thực ra mới chỉ gợi được những vấn đề để cùng nhau quan tâm, giải quyết, nếu công việc nghiên cứu vẫn được đầu tư tiếp tục. Nhiều ý khác còn nặng về giả định hơn là thực tế tư liệu cho phép. Song, mặc dù vậy, có một điều khẳng định rằng, những ý kiến của tác giả không có một chút gì “tư biện”. Nếu như có một đôi chỗ nào mắc phải sự rối rắm, thì đó không phải là lỗi trên đây, mà có lẽ do sự thiếu khúc triết khi diễn giải những vấn đề còn khá mơ hồ của mộ táng cổ Mường đặt ra.

Vì lẽ đó, độc giả - đặc biệt là những người quan tâm tới mộ cổ ở Mường – xin hãy coi đây như là những giả thiết công tác trong công việc nghiên cứu mộ cổ Mường.

TS.Phạm Quốc Quân

 

Tài liệu dẫn:

1. Đỗ Văn Ninh: Những khu mộ Mường ở Hòa Bình. Khảo cổ học, số 16/1974, tr 139.

2. Đỗ Văn Ninh: Mộ Mường cổ và tục chôn cất truyền thống Việt Nam. Dân tộc học, số 4/1977.

- Phạm Quốc Quân: Nhìn lại táng tục Mường cổ. Thông báo Khoa học Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, số 1/1983, tr 87 - 91.

- Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường cổ - cấu trúc và táng tục. Khảo cổ học số 3/1986, tr 31 - 35.

3. Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường cổ...., đã dẫn.

4. Phạm Quốc Quân: Từ những chiếc đinh đồng hình chữ U – Luận suy một kiểu cấu trúc mộ. Thông báo Khoa học Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Số 2/1982, tr 99 - 105.

5. Võ Văn Tuyển và Nguyễn Thị Vang: Di tích thời Trần trên núi Hồng Lĩnh. Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1983, tr 224 - 225.

6. Phạm Quốc Quân: Ngôi mộ thời Trần đáng chú ý ở Dưỡng Phú (Hải Hưng). Khảo cổ học, số 1/1977, tr 77 - 81.

7. Đỗ Văn Ninh: Mộ Mường...., đã dẫn.

- Nguyễn Đình Chiến: Báo cáo khai quật mộ Mường cổ ở Ngọc Lâu (Lạc Sơn, Hà Sơn Bình). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

8. Ở đây cũng cần lưu ý rằng, ở mộ Ngọc Lâu cũng tìm thấy một chiếc quan tài khá nguyên lành, nhưng, đó là quan tài gần đây, được chôn đè lên ngôi mộ cổ. Chúng tôi không được trực tiếp quan sát vị trí của quan tài mộ số 4 Phú Cát nhưng vẫn cho rằng đó là quan tài của mộ Mường cổ như ý kiến của Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường cổ ..., đã dẫn.

9. Lê Đình Phụng, Phan Tiến Ba: Khu mộ Mường Đống Thếch (Hà Sơn Bình). Khảo cổ học, số 3/1986, tr 43 - 51.

10. Phạm Quốc Quân, Trịnh Căn và Bùi Văn Thưởng: Khai quật mộ Mường cổ ở Bộ Mu, xã Kim Truy, huyện Kim Bôi (Hà Sơn Bình). Bài đọc trong Hội nghị Thông báo Khảo cổ học hàng năm năm 1988. Tư liệu Viện Khảo cổ học.

11. Phạm Quốc Quân: Nhìn lại táng tục...., đã dẫn.

12. Phạm Quốc Quân: Báo cáo khai quật mộ Mường Thàng, xã Dũng Phong, huyện Kỳ Sơn (Hà Sơn Bình). Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

- Phạm Quốc Quân: Báo cáo khai quật mộ Mường cổ ở Bộ Mu, xã Kim Truy, huyện Kim Bôi (Hà Sơn Bình). Tư liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

13. Trần Từ và Bạch Đình: Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Mường. Nghiên cứu Lịch sử, số140, 141/1971.

- Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường cổ...., đã dẫn, tr 33.

14. Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường cổ...., đã dẫn, tr 34.

15. T.Harrisson: Bên trong đảo Boóc-nê-ô. Tạp chí Địa lý, số 130/1964.

- P.Mus: Nghiên cứu về Ấn Độ và Đông Dương – Những truyền thuyết về người Chàm. BEFEO, tập 31/1931.

16. Phạm Quốc Quân: Khai quật mộ Mường Thàng – Dũng Phong (Hà Sơn Bình). Những phát hiện mới về khảo cổ học 1983, tr 224 - 226.

- Phạm Quốc Quân: Về những cột đá ở mộ Mường. Bài đọc trong Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 1987, Tư liệu Viện Khảo cổ học.

17. T.Harrisson: Bên trong đảo Bornéo..., đã dẫn, tr 331.

18. Phạm Quốc Quân: Táng tục Mường cổ..., đã dẫn.

19. Đỗ Văn Ninh: Mộ Mường cổ và tục chôn cất..., đã dẫn.

20. Trần Anh Dũng và Lại Văn Tới: Mộ Mường – cấu trúc và táng tục..., đã dẫn, tr 40.

- Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba: Khu mộ Mường Đống Thếch..., đã dẫn, tr 59.

21. Phạm Quốc Quân: Báo cáo khai quật mộ thời Trần ở thôn Dưỡng Phú, xã Tạ Xá, huyện Kim Động (Hải Hưng). Tư liệu Viện Khảo cổ học.

22. Phạm Quốc Quân: Báo cáo khai quật mộ Mường Thàng xã Dũng Phong..., đã dẫn.

23. Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba: Khu mộ Mường Đống Thếch..., đã dẫn, tr 48.

24. Chúng tôi và nhiều đồng nghiệp khác chưa tin vào niên đại của đồ gốm Đống Thếch có từ thế kỷ 11 như Lê Đình Phụng và Phan Tiến Ba đã phân loại.

25. Nhân đây, chúng tôi muốn lưu ý tới ngôi mộ thuyền An Khê (Thái Bình). Niên đại mộ được định bằng phương pháp C14 là 715+ 45BP trong khi hiện vật chôn theo lại mang phong cách Lục Triều. Ý kiến trước đây, trong một bài viết, chúng tôi cho rằng người chết đã chơi “đồ cổ” – dùng theo ý của Nguyễn Duy Chiếm. Giờ đây, chúng tôi không tin vào niên đại Lục Triều của 3 chiếc bình chứa trong mộ đó khi chưa được tận mắt nhìn thấy di vật.
Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 197

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Bàn về trống “Loại hình Thạch Trại Sơn”

Bàn về trống “Loại hình Thạch Trại Sơn”

  • 23/10/2019 14:26
  • 67

Trống đồng là một loại nhạc cụ dân tộc cổ đại, đó là điều mà mọi người đã nói!