Thứ Ba, 12/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

17/10/2019 13:55 79
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
1. Di tích Ủng Thành-Đoài Môn

Ủng Thành (Úng Thành/Ủng Môn) là một loại hình kiến trúc có nguồn gốc ở Trung Quốc, ra đời cách đây hàng nghìn năm. Đây là một dạng thành nhỏ chạy bao ngoài cổng La Thành (vòng ngoài), với mục đích tăng cường sức phòng vệ của thành. Xây thành hình tròn hay vuông tuỳ địa hình, mở một cửa nách, bên phải hay bên trái tuỳ sự tiện lợi của thành. Chức năng của Ủng Thành là bảo vệ mặt trước của cổng thành. Vì vậy muốn vào được cổng thành thì không thể đi thẳng vào thành mà nhất thiết phải đi qua cửa nách của Ủng Thành rồi sau đó ngoặt hướng 900 mới vào được cổng thành. Nhờ có nó mà bên ngoài không nhìn thấy được trong thành, quân địch cũng không thể đánh thẳng vào cổng thành.

Ở nước ta, loại hình kiến trúc này xuất hiện sớm nhất vào thời Cao Biền khi đắp lại La Thành năm 866, Việt Sử lược ghi rõ: Biền (tức Cao Biền) đắp lại La Thành, chu vi 1.980 trượng 5 thước (bằng khoảng 6.139m), cao 2 trượng 6 tấc (bằng khoảng 8,04m), bốn mặt xây nữ tường cao 5 thước 5 tấc (bằng 1,7m), 55 địch lâu (lầu vọng dịch - vọng gác), 5 môn lầu (lầu trên cửa thành), 6 ủng môn (cửa tò vò), đào 3 ngòi nước, đắp 34 con đường(1). Qua đó cho biết La Thành thời Cao Biền có đắp các Ủng Thành. Có bao nhiêu Ủng Thành và hiện đang nằm ở đâu vẫn chưa được xác định. Chính vì vậy, khi phát hiện ra dấu tích Ủng Thành ở khu vực phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội, GS. Đỗ Văn Ninh đã cho rằng đây là dấu tích còn lại của một trong sáu Ủng Thành xây dựng dưới thời Cao Biền và tồn tại đến ngày nay(2).

2. Kết quả thám sát, khai quật

Nhằm tìm hiểu vị trí, qui mô, kích thước cũng như các các vấn đề có liên quan đến di tích, năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là BTLSQG) đã tiến hành khảo sát và đào thám sát Ủng Thành. Kết quả đã xác định được các vết tích ở 3 mặt phía nam, bắc và tây của Ủng Thành. Trên cơ sở đó xác định Ủng Thành ở Đoài Môn (cổng phía Tây La Thành Thăng Long) là một toà thành nhỏ hình chữ nhật gần vuông, dài 54m, rộng 52m ôm sát đường Bưởi hiện nay.

 

Sơ đồ mặt bằng hiện trạng di tích Ủng Thành

- Khu vực phía Nam Ủng Thành vẫn còn một gò đất cao, gò đất này nằm sát đường Đông Quan, vốn là con đường cổ đi về xứ Đoài xưa. Gò đất cao gần 4 m, dài khoảng 33m chạy theo hướng đông-tây, mặt gò rộng khoảng 11,5m, chân gò rộng gần 20m. 4 hố thám sát được tiến hành ở vị trí này nhằm làm rõ kết cấu tường thành cũng như lối đi từ đường Đông Quan vào Ủng Thành và Đoài Môn. Ở độ sâu 9,25m đã xác định kết cấu của tường Ủng Thành có 3 lớp gia cố xếp chồng lên nhau:

+ Lớp thứ nhất (tính từ dưới lên) cao 2,25m, được xử lý rất công phu. Gia cố gồm một lớp gạch vồ và ngói vỡ ken dày từ 5-7cm, xen lẫn với một lớp đất sét màu nâu vàng nện chặt, dày từ 10-15cm. Tổng cộng có 18 lớp gạch ngói và 17 lớp đất sét. Quan sát nhận thấy gạch vồ ở đây có màu đỏ và màu xám xanh, ngói là các loại ngói bản và ngói âm dương màu đỏ, dày 0,7-1,5cm, trong đất lẫn nhiều mảnh sành, gốm men có niên đại từ thế kỷ 14-18. Bề mặt của lớp gia cố này là một lớp đất sét màu nâu vàng nện chặt, dày 19cm, riêng ở vách hố phía tây và phía bắc còn có một lớp xỉ than dày 5cm, ngăn cách giữa lớp gia cố thứ nhất và thứ hai.

+ Lớp thứ hai cao 1,7m, được xử lý chắc chắn bằng cách đầm kỹ gạch ngói vỡ và đất sét. Trong đất lẫn ít mảnh sành và gốm men có niên đại kéo dài từ thế kỷ 14-18. Dưới chân của lớp gia cố này được ken dày bằng một hàng gạch vồ vỡ to. Trong một số mảnh gạch vồ tham gia gia cố phát hiện có dính vôi vữa liên kết.

+ Lớp thứ ba cao 2m tính đến mặt nền của gò. Lớp này được nện chặt bằng đất sét thuần màu vàng nhạt. Tại độ sâu 1,4m so với mặt nền, ở góc đông bắc của hố đào phát hiện một vỉa gạch vồ vỡ nằm ken dày. Đây là móng bó ngoài của thành.

Căn cứ vào các lớp gia cố xuất lộ nhận thấy Ủng Thành cao khoảng 5,95m gồm 3 lớp gia cố nện chặt và chồng xếp lên nhau, với hai giai đoạn xây dựng và sửa chữa. Giai đoạn đầu, gia cố bằng lớp gạch, ngói vỡ cùng đất sét nện chặt (tương ứng lớp gia cố thứ nhất), niên đại vào khoảng giữa thế kỷ 18. Giai đoạn sửa chữa và tôn tạo sau được thể hiện qua lớp gia cố thứ hai và thứ ba, với việc phát hiện dấu tích vôi vữa dính trong gạch nên niên đại ở vào giai đoạn muộn, khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

 

Dấu tích phía Nam  Ủng Thành

Điểm đáng chú ý, nằm ở dưới vết tích gia cố móng thành, ở độ sâu từ 5,95m đến 9,25m đã xác định được các dấu tích cư trú ổn định trong suốt thời gian dài từ cuối thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 15, trên một bãi bồi phù sa của dòng sông Tô Lịch, đồng thời cũng chứng minh những biến đổi của dòng chảy sông Tô Lịch thời kỳ ấy với xu hướng bồi tạo mạnh về phía Đông của La Thành Thăng Long xưa.

Biên thành và kết cấu gia cố phía ngoài tường thành được xác định rõ qua hố đào ở phía bắc gò đất với hướng dốc từ trên xuống theo dạng choãi chân đê, rộng từ mép mặt thành đến mép chân thành là 3,3m. Toàn bộ bề mặt phía ngoài (phía bắc) của thành được lèn chặt bởi gạch vồ vỡ, bên trong lớp vỏ gạch là đất sét màu vàng nhạt nện chặt, rộng khoảng 10m, chân thành rộng khoảng 17m. Mặt ngoài của tường thành phía trong không được bó gạch mà gia cố chắc chắn bằng cách đầm gạch vỡ và đất sét nện chặt là kỹ thuật phổ biến xây thành.

 

Địa tầng hố thám sát

Như trên đã trình bày, Ủng Thành còn gọi là Ủng Môn là một thành nhỏ chạy bao ngoài của cổng La Thành, mà ở đây được xác định là Đoài Môn (cổng phía tây). Hơn nữa, đường Đông Quan còn lại ngày nay là một con đường cổ dẫn ra xứ Đoài, vì vậy để qua được cổng Tây vào trong thành thì nhất thiết phải qua Ủng Thành. Trên tinh thần đó, để xác định lối đi vào từ con đường cổ qua Ủng Thành, theo suy đoán nằm ở mặt thành phía nam, điểm tiếp giáp giữa La Thành (chính là đường Bưởi ngày nay) và Ủng Thành, hố đào thám sát mở ở đầu phía đông của gò đất, nhằm giải quyết vấn đề này. Ở độ sâu 0,20m so với mặt gò đất, phát hiện lớp đất sét màu vàng nhạt nện chặt chạy dài từ mép hố phía tây sang đông cùng vỉa gạch vồ chạy dốc từ trên xuống đã khẳng định mặt bên trong Ủng Thành đều có gia cố gạch vỡ và đất sét nện chặt.

Các hố đào khác sát với đường Bưởi hiện tại cũng đã có những phát hiện mới như câu tạo nền đất trũng phía tây bắc, lớp đất bồi cùng đồ gốm sứ thế kỷ 14, 15 và 17, đặc biệt là nhiều vết tích khẳng định sự hiện diện của Ủng Thành niên đại thế kỷ 17-18 với nhiều lần tu sửa và cải tạo.

Hố đào phía đông nam đã xác định được vết tích lối vào Ủng Thành rộng khoảng 12m, ở độ sâu 2,4m với các lớp gia cố khác biệt xung quanh, mặc dầu trong quá trình tồn tại nó đã bị san lấp qua những di tồn mang niên đại muộn và đồ vật thời hiện đại. Đáng chú ý, giới hạn của lối đi này lại là hai bụi tre già hiện còn trên bề mặt. Kết quả kiểm tra ấy đã cho biết những thay đổi của con đường Đông Quan ngày nay đã được bồi lấp lên rất nhiều so với côte nền cũ (khoảng gần 2m) sau khi tường/đê La Thành bị san bạt để làm đường đi (chính là đường Bưởi ngày nay) và khi ấy Ủng Thành đã bị mất tác dụng.

- Khu vực phía Bắc Ủng Thành, các vết tích được xác định trong hố thám sát trên gò đất cao từ 1,45m đến 2,5m, đầu phía tây và bắc của gò đất là ao nước hình thành do  quá trình lấy đất làm gạch vào khoảng những năm 60 của thế kỷ trước. Hố đào chạy cắt ngang gò đất ra sát mép của ao nước. Ở độ sâu 16cm, dưới lớp đất xỉ than màu đỏ sẫm, phát hiện lớp đất sét màu nâu vàng, thuần, rắn chắc, trong đất lẫn nhiều mảnh sành, gốm men nhiều thời kỳ, niên đại kéo dài từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18. Diễn biến địa tầng cho biết một lớp gia cố móng phía bắc của Ủng Thành. Còn ở vị trí cách mép hố phía bắc 2,1m là vỉa gạch vồ vỡ màu đỏ, màu xám xanh hình hòm sớ đặc trưng vật liệu Lê trung hưng lèn chặt cùng đất sét. Vỉa gạch dốc từ trên xuống theo dạng choãi chân đê. Cùng với vỉa gạch phát hiện được ở các hố đào khác có thể xác nhận đây chính là phần gia cố bó ngoài của tường Ủng Thành.

 

Móng gạch bó phía Bắc Ủng Thành

- Khu vực phía Tây Ủng Thành, các vết tích được phát hiện trên cơ sở quy mô, kết cấu của Ủng Thành ở khu vực phía nam. Vị trí này chịu nhiều tác động bởi biến đổi dòng chảy sông Tô Lịch nên bị ảnh hưởng đáng kể, chỉ cao hơn bề mặt khoảng 1m. Tại đây trong hố thám sát đã tìm thấy vết tích gia cố phía tây của Ủng Thành ở độ sâu 1,2m trong lớp đất màu vàng nhạt được đầm chặt nên đanh cứng. Vệt gia cố nàu còn tiếp tục phát triển về hai đầu bắc và nam, song đã bị phá huỷ nặng nề.

3. Những giá trị khi tìm hiểu về Thăng Long

Qua các hố đào thám sát cùng kết quả khảo sát thực địa cho thấy di tích Ủng Thành phân bố trên mặt bằng khá rộng lớn, với lối bố cục độc đáo, hiếm thấy trong nhận thức chung về Thăng Long nói riêng cũng như đối với kiến trúc truyền thống Việt Nam.

 

Hội thảo đầu bờ

Rõ ràng, với từng lớp gia cố chắc chắn do bàn tay của con người tạo nên, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định đây là những lớp gia cố tường thành truyền thống. Kỹ thuật gia cố đan xen một lớp gạch ngói vỡ với một lớp sét nện chặt là kỹ thuật trình có từ rất lâu đời trong lịch sử kiến trúc Việt Nam mà phần nào đã được phản ánh qua lớp gia cố thành Cổ Loa, hay gia cố trụ móng đặt chân tảng kê cột ở di tích chùa Báo Ân thời Trần (Gia Lâm, Hà Nội), Lam Kinh thời Lê (Thanh Hoá) và gần hơn là gia cố Bắc Khuyết Đài ở Hoàng Thành Huế thời Nguyễn. Đặc biệt lối gia cố ấy lại thể hiện ở qui mô to lớn và công phu giống như các di tích ở khu vực Hoàng thành Thăng Long mới khai quật gần đây.

Tuy nhiên, qua kết quả thám sát khảo cổ học cùng với những loại hình di vật thu lượm được mới chỉ xác định giai đoạn xây dựng Ủng Thành-Đoài Môn vào khoảng giữa thế kỷ 18. Nhiều khả năng các vết tích ấy chính là của chúa Trịnh Doanh khi ông cho sửa sang lại thành Đại Độ năm 1749 đã được sử sách ghi chép (6). Những dấu tích vật liệu kiến trúc như gạch ngói, vôi vữa ở lớp trên lại cho biết đến lớp kiến trúc có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu 20. Song, chắc hẳn lúc ấy di tích đã được sử dụng vào mục đích dân sinh khác khi mà bối cảnh lịch sử cũng như phạm vi, vị trí và vai trò của Hoàng thành Thăng Long đã có nhiều đổi thay.

 

Mảnh miệng thạp men trắng thời Trần

 

Mảnh đĩa gốm men xanh lục thời Lê sơ

Điểm đáng chú ý là việc xác định được một tầng văn hoá phản ánh dấu tích  cư trú kéo dài từ cuối thời Lý đến tận đầu thời Lê sơ đã khẳng định Ủng Thành/Đoài Môn được xây dựng trên vùng đất cư trú lâu đời của cư dân phía tây kinh thành Thăng Long xưa. Những dấu tích về một Ủng Thành từ thời Cao Biền đã được sử sách ghi chép nay vẫn chưa có tín hiệu nào từ lòng đất. Phải chăng trong quá trình tồn tại, trước bao biến động của tự nhiên và lịch sử đã có sự xê dịch nào đó của Đoài Môn, theo đó là sự xê dịch của Ủng Môn nên kết quả trong hố khai quật mới chỉ xác định được dấu vết Ủng Thành thời Lê trung hưng ?.

 

Gạch vồ thời Lê

 

Mảnh ngói mũi thời Lê

Rõ ràng đây là vấn đề lịch sử rất hấp dẫn các nhà khoa học khi tìm hiểu về những biến đổi thành Thăng Long, mà do diện tích và không gian nghiên cứu hạn chế nên vẫn chưa được giải đáp tường tận. Kết quả nghiên cứu lần này mới chỉ là những kiến giải bước đầu về lớp kiến trúc muộn, tồn tại sau vào thời Lê trung hưng mà vẫn ‘lần tìm” ra Ủng Thành-Đoài Môn sử sách ghi lại là của Cao Biền (vào khoảng thế kỷ 9). Rồi khi mảnh đất này được chọn làm kinh đô mang tên Thăng Long, các triều đại nhà Lý và Trần có còn kế thừa và sử dụng lại Ủng Thành-Đoài Môn hay không ? qui mô, bố cục như thế nào ? trong khi khảo cổ mới chỉ tìm thấy những bằng chứng cư trú của con người nơi đây ?.

Tuy nhiên, với kết quả thu thập được qua khai quật khảo cổ học đã khẳng định chắc chắn những vết tích ấy liên quan trực tiếp đến Ủng Thành-một loại hình di tích rất hiếm thấy trong lịch sử kiến trúc truyền thống Việt Nam. Quan trọng hơn, theo đó khẳng định sự hiện diện của La Thành Thăng Long thời Lê. Phải chăng còn đường Bưởi ngày nay chính là một đoạn La Thành còn lại và trên đoạn La Thành phía tây ấy còn có cửa ra vào Đoài Môn, dân gian còn nhắc tới tận hôm nay. Việc xác định được vị trí của Đoài Môn cùng với những phát hiện khảo cổ học ở Giảng Võ Điện, Quần Ngựa và đặc biệt các vết tích kiến trúc được phát hiện ở Hoàng thành Thăng Long trong thời gian gần đây sẽ góp phần quan trọng trong nhận thức về diện mạo phía tây Kinh thành Thăng Long xưa nói riêng cũng như toàn bộ Kinh thành Thăng Long nói chung.

Trong tương lai, với nhận thức về tầm quan trọng và những giá trị đặc biệt quí hiếm của di tích Ủng Thành/Đoài Môn, chắc chắn di tích nhận sẽ được quan tâm sâu sát của các cấp chính quyền Hà Nội. Và khi ấy, thủ đô của chúng ta sẽ lại được ghi tên thêm một loại di tích kiến trúc độc đáo, có ý nghĩa lớn đối với Thăng Long-Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Đoàn Chất

                                                                                                           

CHÚ DẪN

1. Trần Quốc Vượng (dịch) 2005. Việt Sử Lược. Nxb Thuận Hoá (Huế) & Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây: 36.

2. Đỗ Văn Ninh 1995. Về tên gọi “Đấu đong quân” của di tích La Thành gần gốc Bưởi. Trong Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1994. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 350.

3. Nguyễn Văn Đoàn, Lê Văn Chiến 2003. Báo cáo kết quả khai quật di tích chùa Báo Ân, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội lần thứ II năm 2003. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

4. Vũ Quốc Hiền, Phạm Vũ Sơn 2001. Báo cáo kết quả điều tra, thám sát di tích lầu Tứ Phương Vô Sự, Đại Nội, Huế năm 2001. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

5. Nguyễn Văn Đoàn 2003. Đào thám sát thành và một số vấn đề mới về di tích Lam Kinh. Khảo cổ học, số 6.

6. Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Văn Đoàn, Lê Văn Chiến 2002. Báo cáo kết quả khảo sát di tích La Thành, Hà Nội năm 2002. Tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 197

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Dấu triện son thời Sơn Tây

Dấu triện son thời Sơn Tây

  • 10/10/2019 11:25
  • 118

Cho đến nay, di sản văn hoá vật chất thời Tây Sơn (1788-1802) tuy còn lại không nhiều nhưng đã được các nhà nghiên cứu sử học và bảo tàng tập hợp, công bố ở nhiều nơi (Nguyễn Đình Chiến, 2011: tr. 14-17). Trong bài này chúng tôi tập trung giới thiệu về các dấu triện son thời Tây Sơn với các niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh và Bảo Hưng..