Chủ Nhật, 13/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

25/09/2019 09:50 74
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
I. Đầu năm 1979, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) khai quật khu mộ mường ở Mường Thàng, xã Dũng Phong, huyện Kỳ Sơn (Hà Sơn Bình). Đây là một trong bốn khu mộ mường lớn ở Hòa Bình cũ đã được xác định niên đại vào khoảng thế kỷ 15 - 171.

 

Mộ đá Đống Thếch ở Kim Bôi, Hòa Bình, tương truyền là nơi chôn cất

các quan lang người Mường (nguồn Internet) 

Với 6 ngôi mộ được nghiên cứu kỹ lưỡng, kết quả khai quật của đợt này, cho biết cấu trúc của mộ Mường Thàng như sau:

Mộ không có nấm, ngược lại, lòng mộ lại hơi lõm sâu hơn so với mặt đất tự nhiên. Biên mộ được giới hạn bằng những cột đá cắm xung quanh từng mộ. Và, kích thước của cột đá to nhỏ khác nhau, tùy theo kích thước của huyệt mộ. Hầu hết các cột đều làm bằng phiến thạch, cao trung bình từ 2 đến 3m.

Các lớp đất trong huyệt mộ, kể từ trên xuống như sau:

- Lớp trên cùng là lớp canh tác, dày từ 0,20m - 0,50m.

- Lớp đất lấp mộ dày từ 0,50m - 1m.

- Dưới cùng là lớp than tro dày từ 0,50m - 0,80m, tùy theo kích thước của mộ.

Than tro trong mộ là loại than củi, than lá cây. Ở bốn vách huyệt có những lớp than mỏng tạo thành hình vòng cung nhẹ. Đây là vết tích của những lớp than bị trào lên trong quá trình lấp mộ.

Bên trên và trong lớp than tro không thấy dấu vết của quan tài. Đồ tùy táng được vùi trong lớp than tro đó2.

Mộ Mường Thàng không có áo quan, vậy thì, công việc mai táng được tiến hành như thế nào? Hình thức ra sao?

Trong các mộ, xử lý các lớp đất xung quanh, chúng tôi thấy nhiều dấu vết than nằm rải rác trên miệng huyệt. Hiện tượng này khiến chúng tôi nghĩ đến một nghi lễ nào đó trước khi huyệt được lấp. Có thể chăng, than trong huyệt chính là than ở trên miệng huyệt hất xuống sau khi đã tiến thành nghi lễ ở bên trên. Nhận định này lại được các vết tích than tro trên vách huyệt mộ làm minh chứng. Trên vách huyệt của M1, chúng tôi thấy những vết sót của than tro từ miệng xuống lớp than. Rõ ràng, đây là lưu ảnh của một động tác hất than từ miệng huyệt xuống, sau một nghi lễ mai táng.

Khối than ở trong mộ, dầy gần một mét là than gì? Có thể là than dùng để hỏa thiêu thi hài? Có lẽ, thi hài được hỏa thiêu ngay trên miệng huyệt. Nhưng, cũng nhiều khả năng thi hài được hỏa thiêu ở một nơi khác rồi được tập trung đến miệng huyệt trước khi tiến hành những nghi lễ tiếp theo.

Điều đặc biệt lý thú là, chúng tôi đã phát hiện được trong lớp than tro vết tích của xương cháy dở trong hai mộ M1 và M4. Trong than tro, không tìm thấy những mảnh xương lớn và răng.

Giả thiết của chúng tôi chẳng những được vết tích khảo cổ học ủng hộ, mà một tài liệu dân tộc học cũng góp phần soi sáng.

Một cụ già, năm ngoái (1978) vừa tròn 90 tuổi, kể lại rằng: Cách đây không lâu, chúng tôi còn có tục trải than tro nóng xung quanh quan tài. Nhưng, trải than nóng như vậy, quan tài cháy âm ỉ hàng tháng trời, do đó, gần đây chúng tôi không trải nữa. Qua chuyện kể, đôi chỗ vượt ra khỏi thực tế, pha nhiều chất cường điệu. Nhưng chắt lọc hiện thực khách quan, cốt lõi câu chuyện đã phản ánh một nghi lễ hỏa thiêu. Nghi lễ này, nay chỉ còn những mảnh vụn được vá chắp trong ký ức của cụ.

Kết quả khai quật 6 ngôi mộ Mường Thàng ở Dũng Phong như đã trình bày trên đây - dù còn ít, nhưng đã có thể kiểm chứng được những kết luận trước đây của cuộc khai quật Mường Vang.

Tháng 5 năm 1976, Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật khu mộ cổ Mường Vang ở xóm Chiềng, xã Ngọc Lâu, huyện Lạc Sơn (Hà Sơn Bình).

Nói chung, khu mộ đã bị phá hủy do canh tác. Song hiện trạng còn thấy trên mặt đất, cũng cho biết mộ Ngọc Lâu không có gì khác biệt, so với những khu mộ ở Mường Bi, Mường Thàng, Mường Động.

Đợt khai quật xử lí 4 mộ, trong đó, một mộ nằm ở bên trái (M2) có quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng3. Những người khai quật cho rằng mộ M2 có niên đại đầu thời Nguyễn vì trong mộ có khuy áo bằng đồng, mã não và thủy tinh. Sở dĩ kết luận niên đại muộn cho M2 vì những ngôi mộ hợp chất thời Lê -  Trịnh đã biết đều không thấy có hiện tượng áo có khuy, mà được thắt dải. Căn cứ này, theo chúng tôi chỉ xác định được ranh giới sớm của M2 mà không thể xác định ranh giới muộn của nó. Do vậy, chúng tôi cho rằng, M2 còn có thể muộn hơn niên đại mà những người khai quật đã định cho nó.

Dựa vào dấu vết của quan tài M2 mà 3 ngôi mộ khác cũng được khai quật đợt này, dù chỉ có than, giống hệt như mộ Mường Thàng vừa nêu trên, không có áo quan, cũng được tác giả của báo cáo nhận xét là: “quan tài bị mối xông”4. Từ đó, những người khai quật đi đến kết luận: Mộ Mường cổ có áo quan làm bằng thân cây khoét rỗng và được bảo vệ bằng lớp than trải trong huyệt mộ. Sau kết luận đó, một số bài nghiên cứu được công bố với mục đích gắn táng tục Mường với táng tục của người Việt cổ cách đây khoảng 2000 năm.

Đỗ Văn Ninh, trong bài Mộ Mường và tục chôn cất Việt Nam5 đã khẳng định:

1. Quan tài người Mường là loại hình thân cây khoét rỗng (quan tài thuyền) có nguồn gốc từ rất sớm, trước Công nguyên. Hiện nay người Mường vẫn giữ được tục chôn cất loại quan tài này.

2. Tục dùng than tro bao bọc khắp quan tài thuyền là tục truyền thống, bắt gặp ở những mộ quan tài thuyền mộ cũi gỗ từ khoảng trước sau Công nguyên.

Nguyễn Đình Chiến trong báo cáo của mình, cũng nhận xét có một mối quan hệ Việt - Mường qua mộ táng. Tác giả đã sâu chuỗi một tuyến phát triển mộ thuyền từ Việt Khê, Châu Can đến mộ Mường thế kỷ 16.

Tục trải than củi ở mộ Mường, tác giả cho đó là sự tiếp thu từ mộ cũi gỗ trong có quan tài bằng thân cây khoét rỗng có ở Việt Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên. Truyền thống này mộ Lý - Trần cũng tiếp thu được.

Phạm Quốc Quân cũng căn cứ vào kết quả được công bố trên đây, đã đưa ra hai tuyến mộ phát triển song song và kéo dài trong táng tục Việt Nam.

Tuyến mộ gạch: TÂY HÁN - ĐÔNG HÁN - TÙY ĐƯỜNG.

Tuyến mộ thuyền: CHÂU CAN - VIỆT KHÊ - CHÂU SƠN - AN KHÊ - MỘ MƯỜNG (thế kỷ 16).

Từ nhận xét này, tác giả đã kết luận: mộ gạch có nguồn gốc ngoại lai, không có nguồn gốc rễ, nên sớm chấm dứt cùng với sứ mệnh cai trị của chủ nhân sinh ra mộ trên đất Việt Nam ở thế kỷ 10. Nhưng, mộ thuyền, do có nguồn gốc bản địa nên được tiếp thu và phát triển cho đến ngày nay ở một số dân tộc cháu con của người Việt cổ.

Để làm minh chứng cho kết luận này, Phạm Quốc Quân đã khảo sát một loại chôn cất phổ biến ở miền xuôi vào thế kỷ 16 và cho rằng: ở miền xuôi, hình thức mộ xác ướp, lăng tẩm, ảnh hưởng Trung Hoa là phổ biến. Trong khi đó, người Mường vẫn giữ được hình thức chôn cất cũ truyền thống. Truyền thống bản địa của mộ thuyền là một trong nhiều truyền thống khác, như những mạch ngầm chảy suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên để tạo nên nền văn minh rực rỡ: Văn minh Phục hưng Đại Việt6.

Như vậy nội dung chính của những bài viết, đều căn cứ vào kết quả khai quật mộ Mường nhằm giải thích tính liên tục bản địa của mộ thuyền Việt Nam.

Nhưng như đã trình bày ở phần trên, kết quả nghiên cứu 6 ngôi mộ Mường Thàng ở Dũng Phong, đã có thể kiểm chứng lại những kết luận trước đây về mộ Mường cổ. Chúng tôi không thấy khiên cưỡng khi lấy một khu vực mộ Mường để đối chiếu, so sánh và kiểm chứng toàn bộ các khu mộ Mường khác vì cấu trúc của mộ Mường Thàng (kể cả bên trên lẫn bên dưới huyệt) hoàn toàn giống các khu mộ Mường đã nghiên cứu trước đây.

II. Trong những ghi chép của dân tộc học về tục hỏa thiêu của các dân tộc miền Bắc Việt Nam thì phổ biến nhất là các nhóm Thái và Tày - Nùng. Tuy nhiên, dân tộc gần gũi nhất với Mường là Thái đặc biệt là Thái Đen thì tục hỏa thiêu lại khá đậm nét.

Khi người Thái Đen chết, xác được đặt trên màn hay trên cáng, ở trong nhà, vào thời gian tiến hành các nghi lễ tang ma trước lúc đưa lên giàn thiêu xác. Chủ trì việc tang là các “Khuổi Cốc” và “Khuổi Pai” - rể họ gốc, theo chế độ tàn dư của chế độ mẫu hệ. Một giàn thiêu xác được dựng lên, gồm một khối lượng khá lớn củi gỗ, xếp thành từng đống, có dáng gần như một hình khối hộp chữ nhật, trong đó 2/3 là củi tươi, và chỉ có 1/3 là củi khô. Loại củi để thiêu xác thường tìm thấy ở cây gỗ “mày tỉu” - là một loại gỗ có dầu. Vào một buổi chiều trong ngày, xác được đặt lên giàn củi và phải do chính tay con gái gây lửa đốt. Ngọn lửa cháy suốt đêm hôm đó cho đến sáng hôm sau. Khi lửa tắt, chỗ giàn thiêu chỉ còn lại một đống than củi lớn và chính giữa là một đám tro xương thường vẫn giữ được nguyên hình người. Sau khi vẩy rượu vào đám tro xương có hình người đó, người con cả vun tất cả vào cái hũ. Cũng có khi việc đốt xác bị lỗi, xác đốt chưa kỹ là hết củi nên sót lại những mẩu xương cháy dở.

Chiếc hũ đựng tro xương của người chết được bí mật đem chôn giấu ở một nơi kín đáo, xóa hết dấu vết. Chỉ có người độc nhất trong gia đình, thường là người con trai cả được biết và giữ riêng bí mật về địa điểm chôn cất hũ tro xương đó. Bí mật này được truyền từ lưu tôn, mỗi thế hệ chỉ có một người được biết.

Như vậy, đem kết quả khai quật những ngôi mộ Mường Thàng ở Dũng Phong với hiện tình của nó (than tro trải trong huyệt, xương cháy dở rất hiếm hoi còn lẫn trong than tro v.v…) đối chiếu với những hiện tượng dân tộc được ghi chép trong tục hỏa thiêu của người Thái Đen vừa được nêu trên, chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng.

Hơn thế nữa, một tài liệu khác đã gợi ý cụ thể và mối quan hệ trong táng tục Mường - Thái: những ngôi mộ ở Phù Yên và Mai Châu (Mộc Châu) và một số nơi khác ở Hoàng Liên Sơn, Thanh Hóa - Nơi mà người Mường - Thái sống xen kẽ nhau. Ở đó, cũng có những khu mộ có cấu trúc tương tự như các khu mộ được gọi là mộ Mường. Nhưng, cũng ở đó, người Thái lại nhìn nhận là khu mộ địa của dòng tộc mình.

Như thế, qua cấu trúc bên trên ấy - đem so sánh giữa mộ Thái và mộ Mường đã giống hệt nhau. Vấn đề là cần phải tìm hiểu thêm cấu trúc bên dưới của các khu mộ Thái để có được những kết luận chắc chắn hơn.

Tuy rằng, dẫn liệu khảo cổ học trong mối quan hệ Mường Thái qua táng tục còn mờ ảo, nhưng các mặt văn hóa vật chất, ngôn ngữ… cũng đã thể hiện mối quan hệ Mường - Thái khá sâu đậm - những hiện tình đó, càng gợi ý cho việc đi sâu tìm hiểu táng tục của hai dân tộc này trong chiều sâu lịch sử cách ngày nay vài bốn trăm năm.

Con số vài bốn trăm năm, như bước đầu nghiên cứu, đã phải là thời điểm bắt đầu của mối giao tiếp giữa táng tục Mường và Thái, hay còn phải ngược xa hơn nữa để tìm hiểu mối quan hệ táng tục này. Đây là những câu hỏi và là những trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu dân tộc lịch sử.

Lê Văn Lan, bằng những cứ liệu khảo cổ học, coi những chiếc thạp đồng có xương răng ở Đào Thịnh, Vạn Thắng v.v… cùng với tro than và đồ tùy táng, tác giả cho rằng đó là kết quả của phong tục hỏa thiêu ở thời Hùng Vương. Từ những bằng chứng đó, Lê Văn Lan đã liên hệ với tục hỏa thiêu của các dân tộc thiểu số hiện nay ở miền Bắc Việt Nam. Đó là các dân tộc Tày - Nùng - Thái. Đặc biệt là Thái Đen.

Như vậy, bằng những vết tích khảo cổ học được soi dọi qua những tài liệu dân tộc học ở nhóm Thái Đen, Lê Văn Lan đã móc nối được mối liên hệ về táng tục của người Việt cổ và người Thái. Mối liên hệ này có thể thấy qua sự tham gia của những yếu tố Thái trong người Việt (Kinh). Mối liên hệ này phải có thời gian đủ dài không chỉ 10 thế kỷ gần đây - để làm dữ kiện cho hiện tình đó7. Do đó, người Việt cổ hẳn phải có những liên hệ nhất định với người Thái - trong thời gian bắt đầu hình thành những tính cách Việt (Kinh) hiện đại.

Theo chúng tôi, ý kiến trên đây - cũng như cách đặt vấn đề ban đầu, cần phải đặc biệt lưu ý. Phải chăng ảnh hưởng và mối quan hệ của táng tục Việt cổ - Thái đã xảy ra từ khá sớm, mà cho đến thế kỷ 16 được người Mường tiếp thu như một truyền thống tổ tiên. Khỏi phải tranh luận, nếu quả đúng có hiện tình này xảy ra trong lịch sử. Thế nhưng, cũng cần phải xem xét lại ý kiến trên - đặc biệt là thời điểm liên hệ giữa Việt - Thái trong lịch sử. Thời điểm mà Lê Văn Lan nêu trên có khớp đúng với thời điểm xuất hiện của các nhóm Thái có mặt trên đất Việt Nam không? Đó là điểm mấu chốt để nhận nhìn đích thực vấn đề.

Qua những tư liệu về lịch sử dân tộc Thái, có thể thấy sự xuất hiện của hai nhóm Thái cơ bản trên đất Việt Nam có khác nhau. Thái Trắng là con cháu của người Bạch Y cư trú ở Tây Bắc và Nam Vân Nam. Nhưng đến thế kỷ 2 sau Công nguyên họ mới chiếm được ưu thế ở dọc hữu ngạn sông Hồng và Lai Châu. Đến thế kỷ 8 làm chủ được vùng Mường Lay.

Thái Đen vào Việt Nam muộn hơn, thế kỷ 11, 12 chịu ảnh hưởng của văn hóa Lào. Nhóm này thực sự định hình ở Việt Nam vào thế kỷ 14, 158.

Như vậy, xét về mặt thời gian - qua truyền thuyết về lịch sử Thái, người Việt cổ đã có quan hệ với Thái Trắng từ rất sớm. Và, những ảnh hưởng qua lại trên các mặt ngôn ngữ, văn hóa… giữa hai nhóm Việt cổ - Thái trong quá khứ có chăng chỉ là xảy ra với nhóm Thái Trắng. Thế nhưng, những tư liệu về tục hỏa thiêu mà Lê Văn Lan viện dẫn nhằm minh xác cho mối quan hệ Việt - Thái thời Hùng Vương lại là nhóm Thái Đen. Lịch sử định hình của nhóm Thái Đen trên đất Việt lại không ủng hộ cho giả thiết này. Do đó, có thể kết luận được chăng? Táng tục Mường cổ thế kỷ 15 đã ảnh hưởng trực tiếp từ Thái Đen, nó không thể ảnh hưởng theo lối bắc cầu, Thái - Việt cổ - Mường thế kỷ 16 - như cách đặt vấn đề lúc ban đầu của chúng tôi. Thực tế lịch sử của hai nhóm dân tộc sống xen kẽ nhau - trong thời gian khá lâu dài như Mường - Thái, rất có thể xảy ra mối quan hệ qua lại trực tiếp không chỉ trong táng tục mà trong nhiều yếu tố khác nữa về văn hóa. Đây chính là hiện tượng hỗn dung văn hóa - như có nhiều người đã phác họa mô hình.

Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề Mường tiếp thu táng tục Thái (không phải Thái tiếp thu Mường) vì hiện nay, người Mường đã không giữ được phong tục hỏa thiêu. Họ dùng quan tài bằng thân cây khoét rỗng để mai táng thi thể người chết. Hiện tượng dùng quan tài bằng thân cây là rất phổ biến của người Việt cổ, cách đây vài nghìn năm. Phải chăng tục dùng thân cây khoét rỗng làm quan tài là tục truyền thống của người Việt - mà đến nay được người Mường bảo lưu?

Chính vì thế, theo chúng tôi, hướng tìm hiểu mối quan hệ Mường - Thái qua nhóm Thái Đen là hoàn toàn có cơ sở. Cơ sở này, như đã trình bày chẳng những được các tài liệu dân tộc học ủng hộ mà tư liệu khảo cổ học, qua táng tục Mường cổ thế kỷ 16 cũng khẳng định mối quan hệ này.

Bằng kết quả nghiên cứu bước đầu và táng tục Mường thế kỷ 16, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những giả thiết về mối quan hệ Mường - Thái qua táng tục, nhằm góp thêm tư liệu cho việc tìm hiểu những mối quan hệ toàn diện giữa các dân tộc anh em đang sinh sống trên đất nước Việt Nam. Chúng tôi mới chỉ nêu lên giả thiết của mối quan hệ này và chưa dám khẳng định vì chưa được kiểm chứng toàn diện. Mong rằng, khảo cổ học cần tìm hiểu sâu hơn toàn bộ khu mộ Mường để có những kết luận chắc chắn. Dân tộc học, lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử v.v… cần quan tâm nhiều hơn nữa để khắc đậm thêm các mối quan hệ Thái - Mường làm cơ sở cho việc tìm hiểu sâu hơn nữa quan hệ táng tục.

Muốn làm được như vậy, nhiều vấn đề của hai dân tộc này phải được trước hết làm sáng tỏ. Hỏa thiêu của dân tộc Thái, Mường mang ý nghĩa gì? Ý nghĩa của Phật giáo hay mang tàn dư của những tín ngưỡng nguyên thủy ngoài Phật giáo. Tại sao dân tộc Mường ngày nay lại bỏ tục hỏa thiêu mà chôn người chết bằng thân cây khoét rỗng v.v… Tất cả phải được quan tâm giải quyết và được làm sáng tỏ trong phương châm nghiên cứu tổng hợp, toàn diện và lâu dài.

TS.Phạm Quốc Quân

 

Tài liệu dẫn:

1. Đỗ Văn Ninh: Những khu mộ Mường ở Hòa Bình, Khảo cổ học, số 16/1979, tr 139.

- Nguyễn Đình Chiến: Báo cáo khai quật mộ Mường cổ Ngọc Lâu, Lạc Sơn (Hà Sơn Bình), Phòng Tư liệu Viện Khảo cổ.

- Phạm Quốc Quân: Báo cáo khai quật mộ Mường Thàng xã Dũng Phong, huyện Kỳ Sơn (Hà Sơn Bình), Tư liệu Thư viện Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

2. Trong bài này, chúng tôi chỉ bàn đến cấu trúc mộ, qua đó, bàn về táng tục. Phần giới thiệu đồ tùy táng, chúng tôi không đề cập.

3. Nguyễn Đình Chiến: đã dẫn.

4. Như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi cho rằng mộ Mường cổ được hỏa thiêu không có quan tài. Do đó, không có hiện tượng mối xông vì ở những ổ mối xông đều còn để lại những vết tích của gỗ. Hơn thế, đất ở ổ mối có kết cấu khá rắn chắc. Trên lát cắt còn để lại nhiều lỗ hổng, nơi mối làm tổ. Trong khi đó, tình hình thực tế ở những ngôi mộ chúng tôi khai quật không có hiện tượng này. Vả lại nếu mối xông hết quan tài thì hộp tiền ở mộ M2 cùng những mẫu củi còn sót lại ở trong lớp than các mộ sao không bị mối xông?

Có người giả thiết rằng, khối than tro trong mộ bảo vệ quan tài (chống ẩm, chống mối). Theo chúng tôi, cấu trúc của lớp than không ủng hộ ý kiến đó vì đây là một khối than đặc, không có hiện tượng nào, chứng tỏ trước đây nó có nhiệm vụ bảo vệ quan tài. Nhưng, nếu lớp than có nhiệm vụ bảo vệ quan tài như giả định đã nêu trên thì, tự nó lại mâu thuẫn với kết luận là mối xông quan tài.

Những tài liệu đã điều tra thổ nhưỡng ở Dũng Phong của Ty Nông nghiệp và Thủy lợi Hà Sơn Bình cho hay, ở Dũng Phong khả năng hoạt động của mối không sâu quá 2,5m. Trong khi đó, những ngôi mộ mà chúng tôi khai quật, có những huyệt sâu tới gần 3m.

Ở M6, toàn bộ đồ tùy táng nằm gọn trong lớp than. Nếu mộ có quan tài thì phải đè lên trên hiện vật. Hậu quả là, đồ tùy táng sẽ vỡ. Nhưng, thực tế, ở M6 đồ tùy táng còn nguyên vẹn. Nếu giả thiết quan tài được lớp than bảo vệ thì hiện vật nằm ở vị trí đó sẽ không có khoảng trống để đặt quan tài. Tất cả những chứng cớ đó, có thể khẳng định mộ Mường cổ Dũng Phong không có quan tài. Do đó, cũng không có hiện tượng mối xông như nhiều người đã giả thiết.

5. Đỗ Văn Ninh: Mộ Mường cổ và tục chôn cất truyền thống Việt Nam, Khảo cổ học, số 2/1977, Hà Nội, 1977.

6. Phạm Quốc Quân: Mộ thuyền - Giới thiệu và nhận xét, Hai mươi năm hoạt động của Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, 1978.

7. Lê Văn Lan: Vấn đề hỏa táng ở thời đại các vua Hùng, Nghiên cứu lịch sử số 182, Hà Nội, 1972, tr 74.

8. Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân: Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Hà Nội, 1977.

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 163

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Cổ vật thời Tây Sơn (1788 – 1802)

Cổ vật thời Tây Sơn (1788 – 1802)

  • 16/09/2019 09:59
  • 99

Cuối thế kỷ XVII bước sang đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện và sâu sắc. Đất nước bị nội chiến chia cắt, đời sống nhân dân (chủ yếu là nông dân) vô cùng cực khổ. Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa nổ ra 1771 và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, tiến tới đánh tan các thế lực phong kiến cát cứ, đưa đất nước vào ổn định. Thành tựu lớn nhất của khởi nghĩa nông dân Tây Sơn chính là đã dẹp yên được thù trong, đánh thắng giặc ngoài và thống nhất đất nước. Con người tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ là người tổ chức và lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Xiêm (1784) và quân Thanh (1789), lập nên những chiến công oanh liệt Rạch Gầm – Xoài Mút ở miền Nam, Đống Đa – Thăng Long ở miền Bắc..