Chủ Nhật, 13/10/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

16/09/2019 09:59 99
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Cuối thế kỷ XVII bước sang đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng toàn diện và sâu sắc. Đất nước bị nội chiến chia cắt, đời sống nhân dân (chủ yếu là nông dân) vô cùng cực khổ. Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ liên tiếp, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa nổ ra 1771 và nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, tiến tới đánh tan các thế lực phong kiến cát cứ, đưa đất nước vào ổn định. Thành tựu lớn nhất của khởi nghĩa nông dân Tây Sơn chính là đã dẹp yên được thù trong, đánh thắng giặc ngoài và thống nhất đất nước. Con người tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, anh hùng dân tộc kiệt xuất Nguyễn Huệ là người tổ chức và lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Xiêm (1784) và quân Thanh (1789), lập nên những chiến công oanh liệt Rạch Gầm – Xoài Mút ở miền Nam, Đống Đa – Thăng Long ở miền Bắc..

Sau chiến thắng quân xâm lược, thống nhất đất nước, nhiều chủ trương, cải cách lớn được Nguyễn Huệ hoạch định nhằm phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và quân sự, củng cố nền độc lập, thống nhất đất nước, chuẩn bị thực lực chống lại sự nhòm ngó và xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây.

Cho đến nay di sản văn hoá vật chất thời Tây Sơn (1788-1802) tuy còn lại không nhiều nhưng đã được các nhà nghiên cứu sử học và bảo tàng tập hợp, công bố ở nhiều nơi (Nguyễn Đình Chiến, 2011: tr. 14-17). Các cổ vật thời Tây Sơn xin được giới thiệu theo các chất liệu như sau:

1.1. Chất liệu gốm:

Ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia còn lưu giữ và trưng bày 2 chiếc bát gốm men rạn vẽ lam ,ký hiệu LSb 13424, đkm: 20,5cm, cao: 8cm.

 
 

Hai bát có cùng kiểu dáng trang trí, men vẽ, men phủ và kích thước tương tự nhau. Bát có miệng loe, thành cong, đế thấp và rộng. Thành ngoài một phía vẽ khóm trúc men lam, còn phía khác viết 2 dòng chữ Hán. Minh văn viết 4 dòng chữ Hán: Vị xuất địa đầu tiên hữu tiết; Quang Trung niên tạo. Nghĩa là: Cái măng tre chưa nhô khỏi mặt đất mà đốt dóng [tiết] của nó đã sớm ra trước. Chế tạo trong niên hiệu Quang Trung 1788- 1792. Đây là loại bát do lò gốm Bát Tràng ,huyện Gia Lâm sản xuất. (Nguyễn Văn Hùng & Nguyễn Đình Chiến, 2010: tr.410).

1.2. Chất liệu gỗ:

Theo tài liệu công bố của Trần Văn Giáp và Nguyễn Duy Hinh đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, tháng 6-1970. Trong bài đó giới thiệu một bài văn đời Tây Sơn khắc trên biển gỗ ở Miếu thờ Thần Núi Đồng cổ (Thanh Hoá) nói về trống đồng. Đó là một tấm biển gỗ hình chữ nhật 860 x 400mm. Nội dung bài ký khắc trên biển gỗ nói về việc thờ Thần Núi Đồng cổ. Vâng mệnh vua cha, con trai của Quang Trung là Tuyên Công (em vua Cảnh Thịnh) ra làm Đốc trấn nơi này từ năm 1790-1802. Ông đã nhiều lần kéo quân qua đền và nghỉ lại. Nhân phát hiện chiếc trống đồng cổ, ông cho là điềm lành, đem trống đồng tiến cúng vào miếu này để giúp cho âm nhạc khi cúng tế. Cuối bài ký ghi rõ vào niên hiệu Bảo Hưng năm thứ 2, 1802 (Trần Văn Giáp & Nguyễn Duy Hinh, 1970 : tr. 168-175)

1.3. Chất liệu đá:

Theo bài giới thiệu của Nguyễn Duy Hinh và Nguyễn Duy Chiếm đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, tháng 6-1970. Về một tấm bia đá thời Tây Sơn ở Đền Lũng vùng Dâu tỉnh Bắc Ninh. Bia cao 140cm, ngang rộng 57cm, phần chân rộng 63cm. Mặt trước bia khắc chiếu chỉ của vua Quang Trung năm thứ 2 (1789). Mặt sau khắc bài văn ca tụng công đức của nhà Tây Sơn của dân làng Lũng năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797). Cả 2 mặt bia đều khắc chữ Hán theo lối khải, chân phương nét khắc rõ ràng. Đây là tài liệu bia ký rất hiếm, nói về việc miễn trừ các loại sưu dịch dưới đời vua Quang Trung và sự vui mừng của nhân dân với chính sách của nhà Tây Sơn (Nguyễn Duy Hinh & Nguyễn Duy Chiếm, 1970 : tr. 158-167).

Thư viện Khoa học xã hội còn lưu giữ 46 thác bản bia ký của thời Tây Sơn. Đó là những bia ở các Văn Chỉ có quan hệ đến vấn đề về văn học thời Tây Sơn thuộc các địa phương Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương... Nơi nhiều nhất là tỉnh Hải Dương với 27 bản. Đặc biệt ngoài các bia có niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh như trên còn có tấm bia mang niên hiệu Bảo Hưng ở Lăng Sĩ Nhiếp xã Tam Á huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Bia dựng vào năm Bảo Hưng thứ nhất, khi Nguyễn Ánh đã chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản đã phải chạy ra Thăng Long. Nội dung  bia này có nhiều điều bổ ích giúp cho việc nghiên cứu tìm hiểu thời Tây Sơn.

1.4. Chất liệu đồng:

Các cổ vật chất liệu đồng thời Tây Sơn còn lại khá nhiều bao gồm các loại hình: chuông, trống, tiền đồng, ấn triện…

a. Chuông: Theo tài liệu của TS. Nguyễn Thị Minh Lý, đến năm 1996 đã thống kê được 181 quả chuông thời Tây Sơn phân bố ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng (Nguyễn Thị Minh Lý (Chủ biên), 2004 : tr. 151-152). Đặc biệt, Hà Tây (cũ) và Hà Nội là những nơi có mật độ chuông thời Tây Sơn đậm đặc nhất. Quai chuông thời Tây Sơn có độ rộng và cao ngang nhau. Tỉ lệ chiều cao quai và toàn thể thường là 1/3,5. Về kích thước chuông thời Tây Sơn có loại “Đại hồng chung” nhằm khi đánh cho tiếng vang to. Phần lớn chuông cao trên 1,2m. Nhiều quả chuông cao từ 130-140cm. Quả chuông chùa Thầy (Hà Tây (cũ)) cao tới 174cm, đkm 93cm. Hầu hết chuông Tây Sơn có 4 núm hoặc 6 núm xếp thành hai hàng. Các núm đều có dáng bông cúc hay hình mặt trời hoặc hình mặt hổ phù.

Tên chuông phần lớn là 4 chữ đại tự đúc nổi trong khung hình lá đề, hình chữ nhật, hình vuông chém góc hoặc hình tròn. Ở chùa Hà (Từ Liêm, Hà Nội) hiện còn quả chuông thời Tây Sơn rất đẹp.

 

Chuông có quai hai rồng, trang trí bộ tứ linh, minh văn do một ông đồ chức Xã giáo soạn, thể hiện rõ chính sách khuyến học của vua Quang Trung (Nguyễn Đình Chiến & Nguyễn Hữu Tâm ,1981, tr. 33-44).

Chuông thời Tây Sơn được đúc bằng ngân quỹ của thập phương công đức, nhất là của người địa phương, song không ít quả chuông được sự tham gia đóng góp của các Đô đốc Tây Sơn có nguyên quán ở Đàng trong nhưng đang trị nhậm trên đất Bắc Hà.

b. Trống đồng: Hiện nay chỉ có một chiếc trống đồng duy nhất có niên hiệu Cảnh Thịnh thời Tây Sơn.

 

Trống hiện lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đkm 54,3cm, cao 37,4cm, nặng khoảng 32kg.

Trống được đúc mô phỏng theo kiểu trống da. Mặt trống cong vồng lên, chính giữa là 2 vòng tròn nổi tượng trưng cho mặt trời, xung quanh thân trống đúc nổi 4 quai hình vòng tròn, trang trí nhiều loại hoa văn: hình hoa 4 cánh, nhũ đinh và đề tài tứ linh long, ly, quy, phượng. Đặc biệt, thân trống có khắc bài minh văn chữ Hán nói về bà Nguyễn Thị Lộc vợ của Tổng thái giám Giao Quận công. Vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) góp công lập chùa Linh Ứng (nay là chùa Nành), cùng lời dẫn việc đúc trống để thờ cúng, tu bổ chùa. Minh văn còn cho biết việc đúc trống vào ngày lành tháng 4 năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) đời vua Nguyễn Quang Toản ở xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay là xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội) .Trống đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật Quốc gia đợt 1, ngày 1/10/2012. (Nguyễn Văn Hùng & Nguyễn Đình Chiến, 2010: tr.172).

c. Tiền đồng: Dưới chính quyền Tây Sơn trong khoảng 30 năm đã đúc và phát hành một số loại tiền như sau:

+ Tiền đời vua Nguyễn Văn Nhạc (1778-88): Thái Đức thông bảo, mang phong cách giống tiền Cảnh Hưng, Chiêu thống. Năm Thái Đức thứ 9 (1787) Nguyễn Văn Nhạc xưng Trung ương Hoàng đế ở Quy Nhơn cho đúc tiền Thái Đức thông bảo Minh Đức thông bảo lưng có 2 chữ Vạn tuế

+ Tiền đời vua Nguyễn Văn Huệ (1788-92): Trong 5 năm ở ngôi vua cho đúc mấy chục loại tiền Quang Trung khác nhau nhưng có thể phân hai loại chính Quang Trung thông bảo Quang Trung đại bảo. Trên mặt lưng một số đồng có ký hiệu hình trăng ngửa, chữ Bảo có kiểu giản thể. Một số đồng Quang Trung thông bảo khác, mặt lưng đúc hai chữ Bình Nam, đúc năm 1789; chữ nhất đúc năm 1788, chữ nhị đúc năm 1789. Tiền Quang Trung đại bảo kiểu chữ chân, đúc năm 1791-92.

+ Tiền đời vua Nguyễn Quang Toản (1793-1802): Tiền Cảnh Thịnh thông bảo, kiểu chữ chân đọc chéo đúc khoảng 1793-1801. Tiền Cảnh Thịnh đại bảo kiểu chữ chân đọc chéo, chữ bảo kiểu giản thể đúc khoảng 1793-1801. Tiền Bảo Hưng thông bảo kiểu chữ chân đọc chéo, đúc năm 1801 ( Đỗ Văn Ninh, 1992:121-140).

d. Ấn triện: Các ấn triện thời Quang Trung hiện còn chủ yếu là các loại ấn của Võ quan trong tướng lĩnh quân đội như một số ấn đồng hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, ký hiệu LSb 2535. Ấn này tìm thấy tại Nam Định,cao 4,5 cm, cạnh vuông 8,3 cm.  Ấn có quai hình chuôi vồ, mặt ấn đúc nổi10 chữ Hán theo thể Triện thư: Suất trung lương nhị vệ tam hiệu trung lang tướng. Đây là dấu của viên Trung lang tướng ở Hiệu quân thứ 3, Vệ thứ 2, Suất trung lương (Hội đồng biên soạn, 2003 : tr.99). Chiếc ấn khác có kiểu dáng tương tự mặt ấn khắc 9 chữ Hán: Suất hùng cự khai vệ ngũ hiệu Đô ty. Đây là ấn của viên tướng chức Đô ty ở Hiệu quân thứ 5, Vệ tiên phong, Suất hùng cự. Trên mặt hai ấn chỉ ghi năm tạo ấn là năm Tân Hợi (1791). Trong sách Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX Nguyễn Công Việt còn giới thiệu tài liệu về chiếc ấn: Tây Kỳ phủ Trung Tín nhất Vệ hộ quân sứ Vinh Hoa hầu. Đây là ấn của viên tướng Vinh Hoa hầu chức Hộ quân sứ thuộc Vệ thứ nhất Trung Tín phủ Tây Kỳ. Một quả ấn khác có dấu hình chữ nhật kích thước 9,8 x 6,6cm. Mặt ấn đúc 5 chữ triện nổi Bằng Tuyền huyện quản lý. Đây là dấu ấn của chức quản lý huyện Bằng Tuyền. Trên các ấn đồng này đều khắc dòng chữ Tân Hợi niên tạo, là năm Quang Trung thứ 4 (1791). Việc khảo cứu của Nguyễn Công Việt đã chứng minh thời gian đúc của các quả ấn đúc năm Tân Hợi trên đây là 1791.

Các quả ấn của vua tức là các kim bảo dưới thời Tây Sơn đến nay đều không còn nhưng chúng ta có thể được biết nhiều hình dấu triện trên các bản sắc phong, chỉ, truyền. Hình dấu đều có hình vuông, bên trong khắc 4 chữ theo kiểu triện Thư, chúng tôi sẽ giới thiệu ở phần dưới đây.

Khảo sát các bản sắc phong thầnhiện còn lưu giữ tại các bảo tàng và di tích chúng tôi thấy một số dấu triện son như sau:

Dấu Quảng vận chi bảo, dấu son hình vuông, hình dấu có kích thước 11,5 x 11,5cm đóng trên tờ chiếu chỉ, niên hiệu Quang Trung năm thứ 5 (1792). Nội dung bản chiếu của vua Quang Trung khen ngợi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp về việc dịch sách Kinh thi. Tờ chiếu hình chữ nhật dài 50cm, rộng 40cm, ký hiệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, số LSb.21965. Dòng niên đại ghi Quang Trung ngũ niên nhật nguyệt sơ nhị. Nghĩa là ngày mùng 2 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5 (1792).  Tờ lệnh chỉ, dài 49,3 cm, rộng 38,7 cm, ký hiệu LSb 21973, có nhiều dấu triện nhỏ và một dấu son lớn : Hoàng Thái tử chi bảo (Hội đồng biên soạn, 2003 : tr.178). Theo khảo cứu của Nguyễn Công Việt, dấu Quảng vận chi bảo thường sử dụng trên các công văn sai, truyền. Dấu Quảng vận chi bảo đã thấy trong các văn bản niên hiệu Quang Trung năm thứ 2 (1789); Quang Trung năm thứ 4 (1791), Quang Trung năm thứ 5 (1792). (Nguyễn Công Việt, 2005: tr.252-255)

Dấu Triều đường chi ấn, dấu hình vuông kích thước 11,3 x 11,3 cm. Đây là ấn của triều đường. Dấu ấn này đã thấy trên văn bản, tờ truyền niên hiệu Quang Trung năm thứ 5, ngày 14 tháng 4 nhuận năm 1792. Triều Đường chi ấn có chức năng tương tự như ấn Đình thần chi ấn, Công đồng chi ấn của thời Nguyễn sau đó. Dấu Triều đường chi ấn còn thấy trên tờ Truyền ngày mùng 4 tháng 6 năm Quang Trung thứ 5 (1792). Theo Nguyễn Công Việt dấu này được dùng vào những văn bản hành chính quan trọng dưới chiếu, chỉ, dụ, cáo, sắc của Hoàng đế.

Dấu Sắc mệnh chi bảo dùng trên các văn bản sắc phong cho người có công dưới thời Tây Sơn. Theo tài liệu của cụ Hoa Bằng sao lại cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm ghi lại ngày 11 tháng 12 năm 1949. Bản này in lại trong sách Ấn chương Việt Nam (Nguyễn Công Việt, 2005: tr.267).  Đây là bản sắc phong của vua Quang Trung ban cho Phan Huy Ích chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Thị trung Ngự sử, tước Thuỵ Nham hầu. Niên đại của Sắc phong này ghi ngày 18 tháng 4 nhuận năm Quang Trung thứ 5 (1792).

Thông tin trên báo Văn hoá ngày 3 tháng 4 năm 2010, cho biết về việc phát hiện 3 sắc phong thời Tây Sơn tại Hà Tĩnh. Trong đó đạo sắc phong vua Quang Trung ban cho ông Trương Bao với tước hiệu Tráng tiết Tướng quân Võ uý Bao Đức Nam. Sắc phong ngày 25 tháng 10 năm Quang Trung thứ 5 (1792). Mặc dù tờ sắc bị mòn, rách nhưng dấu son trên góc trái còn rõ: Sắc mệnh chi bảo. Cũng theo thông tin trên, 2 tờ sắc Cảnh Thịnh năm thứ 8 (1800) cũng đều có nội dung gia phong tước hầu và tước cho người có công đánh giặc dưới thời Tây Sơn.

Ở Bảo tàng Quang Trung, Bình Định còn giữ được một số tài liệu thời Tây Sơn trong đó có các sắc phong cho tướng lĩnh. Bản sắc phong vào ngày 24 tháng 2 năm Cảnh Thịnh thứ 4 (1795), phong cho viên quan chỉ huy Vệ thứ 3 đạo Hổ dực là Nguyễn Đăng Lâm làm chức Hộ quân sứ tước sứ, Phú Nhuận hầu. Trên sắc có dấu chữ triện Sắc mệnh chi bảo (Nguyễn Công Việt, 2005: tr. 275-276).

Thật tiếc cho đến nay không còn một đạo sắc nào nguyên vẹn để truy cứu so sánh. Nhưng xem hình dấu, chúng tôi thấy khác hẳn với tự dạng trên dấu triện Sắc mệnh chi bảo thời Lê. Chữ Sắc mệnh kiểu Triện thư, với chữ mệnh nhô hẳn lên chữ Sắc . Nhưng 2 chữ chi bảo lại giống dấu Hòa nhu chi bảo. Chữ chi có uốn gấp khúc , cân đối..

Dấu Hoà nhu chi bảo hay Tiên nhu chi bảo.Theo Nguyễn Công Việt, dấu triện Hòa nhu chi bảo, được xem là dấu chỉ dùng dưới thời Tây Sơn. Dấu triện có cạnh vuông 15,2cm x 15,2cm, viền ngoài đậm 2,2cm. Ý nghĩa của dấu triện này là các vị thần phù trợ cho mưa thuận gió hòa, mầm lúa mọc tươi tốt. Chúng tôi cũng thấy, dấu triện Hòa nhu chi bảo được sử dụng phổ biến trên các đạo sắc phong thần thời Tây Sơn , kể từ niên hiệu Quang Trung cho đến Cảnh Thịnh và Bảo Hưng. Các dòng chữ chỉ ngày tháng sau niên hiệu đều dùng kiểu chữ giản thể.

Dấu này thấy đóng trên nhiều sắc phong thần cho các Thành hoàng làng như trên bản sắc phong cho Thành hoàng đình Yên Việt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Dấu đóng ở dòng ghi niên hiệu, ngày mùng 2 tháng 10 năm Quang Trung thứ 3 (1790). Đây có lẽ là sắc phong sớm nhất mang dấu triện Hòa nhu chi bảo trong niên hiệu Quang Trung.

Trong  một sưu tập tư nhân ở Hà Nội, chúng tôi đã gặp các bản sắc đóng dấu triện Hòa nhu chi bảo như đạo sắc phong ngày 10 tháng 5 năm Quang Trung 4 (1791).

Các bản sắc phong gia phong mỹ tự cho các vị Thành hoàng thờ ở đình làng Bát Tràng vào ngày 29 tháng 3 năm Quang Trung thứ 5 (1792). Đạo sắc phong  ngày 5 tháng 5 năm Quang Trung thứ 5 (1792) ở miếu Cầu Vương  thôn Thuận Tốn, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm.

 

Dưới niên hiệu Cảnh Thịnh (1793-1801) có 2 đạo sắc phong ngày 21 tháng 5 năm Cảnh Thịnh 4 (1796) trong sưu tập tư nhân ở Hà Nội.

 

và 1 đạo sắc phongkhác cùng ngày ở đền thờ  Bùi Tá Hán tại Quảng Ngãi..

 

Dưới niên hiệu Bảo Hưng (1801-1802) có 1 đạo sắc phong ngày17 tháng 5 năm Bảo Hưng nguyên niên (1801).

 

Như vậy, dưới thời Tây Sơn đã dùng song song 2 dấu triện son Sắc mệnh chi bảo và Hòa nhu chi bảo.   

TS. Nguyễn Đình Chiến       

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Đình Chiến, 2011. “Điểm qua những phát hiện về cổ vật thời Tây Sơn”. Cổ vật thời Tây Sơn. BTLSVN Tp. Hồ Chí Minh xb, tr.14-17.

Nguyễn Đình Chiến & Nguyễn Hữu Tâm ,1981. « Nhân giới thiệu quả chuông chùa Thánh Đức thời Tây Sơn ». Khảo cổ học, Số 4-1981, tr.33-44.

Trần Văn Giáp & Nguyễn Duy Hinh,1970.”Một bài văn đời Tây Sơn nói về trống đồng, khắc trên biển gỗ , tại miếu thờ thần núi Đồng Cổ” Khảo cổ học, Số 5-6, tr.168-175

Hoàng Xuân Hãn ,1952. La Sơn phu tử, Nxb Minh Tân, Paris.

Nguyễn Duy Hinh & Nguyễn Duy Chiếm,1970. “Nhân phát hiện bia Tây Sơn ở đền Lũng” Khảo cổ học, số 5-6, tr. 158-167.

Hội đồng biên soạn (Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch hội đồng), 2003. Cổ vật Việt Nam – Vietnamese Antiquities. Bộ Văn hóa – Thông tin, Cục Bảo tồn – Bảo tàng & BTLSVN xb, Hà Nội. (in Vietnamese and English).

Nguyễn Văn Hùng & Nguyễn Đình Chiến, 2010. Cổ vật Thăng Long Hà Nội. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội xb. (in Vietnamese and English).

Nguyễn Thị Minh Lý (Chủ biên),2004 Đại cương về cổ vật Việt Nam. Trường ĐHVH Hà Nội xb....

Đỗ Văn Ninh, 1992. Tiền cổ Việt Nam. Nxb. KHXH , Hà Nội, Nguyễn Công Việt, 2005. Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX. Nxb. KHXH , Hà Nội

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 163

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Nghệ thuật trang trí gạch thời Mạc

Nghệ thuật trang trí gạch thời Mạc

  • 10/09/2019 08:44
  • 102

Kiến trúc thời Mạc gồm hai loại hình: kiến trúc cung điện, thành quách và kiến trúc dân gian. Kiến trúc cung điện, thành quách thời Mạc có mặt ở các di tích kinh đô như Thăng Long (Hà Nội), Dương Kinh (Hải Phòng và di tích thành nhà Mạc ở nhiều nơi khác. Kiến trúc dân gian bao gồm các loại hình di tích như đình, đền, chùa, quán đạo, miếu, am thờ… được xây dựng ở khắp nơi mà tập trung chủ yếu trong các làng quê. Đây cũng là thời kỳ có sự tham gia hưng công đóng góp của vua, quan lại và tầng lớp quý tộc vào các công trình kiến trúc đó. Công việc xây dựng nhiều, sự phát triển mạnh mẽ các loại hình gạch mà đặc biệt là những viên gạch trang trí hoa văn đã tạo nên những sắc thái khác nhau trong các công trình kiến trúc thời Mạc. Trên cơ sở hệ thống tư liệu từ văn bia, các phát hiện khảo cổ học và khảo sát một số di tích kiến trúc dân gian hiện còn ở Hà Nội, bài viết giới thiệu đôi nét về trang trí trên gạch trong các di tích kiến trúc dân gian thời Mạc nhằm tìm hiểu nghệ thuật trang trí kiến trúc cũng như mỹ thuật Việt Nam thời kỳ này.