Thứ Hai, 18/11/2019
  • Tiếng Việt
  • English
  • French

Bảo tàng lịch sử Quốc gia

Vietnam National Museum of History

04/09/2019 10:57 177
Điểm: 0/5 (0 đánh giá)
Quanh Hà Nội ngày nay, đâu đó trong dân gian vẫn còn nhắc tới những cái tên phản ánh dấu vết của các Đấu Đong Quân, như đoạn đê đường La Thành (nơi giao nhau giữa phố Láng Hạ - và phố La thành). Trên thực địa chẳng còn dấu tích gì nhưng dân làng Giảng Võ, đặc biệt là những người già vẫn còn nhắc tới Đấu Đong Quân. Mọi người đều truyền nhau hiểu rằng đó là một tường vây bằng đất đắp cao quá đầu người. Theo lời kể, khi xưa tuyển lính, quân lính vào đứng kín trong đó để ước lượng xem có khoảng bao nhiêu người ? Khi tổng kiểm tra quân số người ta cho lính vào đứng đầy trong đó rồi nhân với số lần lính xếp vào là sẽ biết được số lượng quân lính đã tuyển dụng.

Có một Đấu Đong Quân hiện nay vẫn còn dấu tích trên mặt đất, đó là ở đoạn giữa đoạn đường Bưởi đến dốc Đội Cấn (còn được gọi là dốc Tập Lái). Di tích nằm ngay sát bên đường rẽ sang bên sông Tô Lịch, vốn cũng là ngoại hào của La Thành Thăng Long xưa, hướng đi về phía Bảo tàng Dân tộc học.

 

Hiện trạng di tích Ủng Thành Đoài Môn

Đây vốn là nơi cửa mở ra phía Tây La Thành. Bên kia là địa phận của Đoài Môn xã. Xã Đoài Môn nay không còn là một đơn vị hành chính nữa. Dân xã Đoài Môn đều chuyển cư đi nơi khác để nhường đất xây dựng thành phố nhưng nhiều người còn nhớ rõ ràng về xã Đoài Môn của mình với nhiều truyền thuyết, giai thoại.

 

Khảo sát tại di tích Ủng Thành Đoài Môn

Ngoài Đoài Môn có đắp một Ủng Thành. Ủng Thành là một thành bao cửa  thành chính, mở lối đi vào cạnh bên (nách). Muốn vào trong thành, phải qua cửa nách của Ủng Thành rồi mới quay một góc 900 để vào trong thành. Như vậy chức năng chính Ủng Thành là không cho vào thẳng cửa thành.

Lối bố cục của Ủng Thành là cách xây thành của người Trung Quốc, có từ thời Hán. Ở Việt Nam, trong Việt Sử  lược chép: "Biền (tức Cao Biền) đắp lại La Thành, chu vi 1980 trượng 5 thước (tương đương khoảng 6.139 m) cao 2 trượng 6 thước (tương đương khoảng 8,04m), bốn mặt xây nữ tường (tường thấp) cao 5 thước 5 tấc (tương đương khoảng 1,70m), có 55 lầu vọng dịch (vọng gác), 5 môn lầu (lầu trên cửa thành), 6 Ủng Môn (cửa tò vò, cửa nách) đào 3 ngòi nước, đắp 34 con đường..." Ủng Môn dịch là cửa tò vò, có phần chưa chính xác, nhưng đoạn trích này cho hay La Thành thời Cao Biền có đắp các Ủng Thành. 6 Ủng Thành đó là những chỗ nào, nay chưa rõ hết, mà chỉ còn lại 1, dấu tích còn lại nằm ở Đoài Môn xã, có cây cầu bắc qua sông Tô Lịch để đi về xứ  Đoài.

Tháng 9 năm 2002, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng LSQG)  đã khảo sát và xác định kích thước theo hiện trạng của Ủng Thành trong khoảng 52m x 54m, với bình đồ gần vuông, bề mặt di tích có nhiều gạch vồ, một loại vật liệu đặc trưng của thời Lê trung hưng (thế kỷ 17-18). Vậy, có thể tường Ủng Thành được xây gạch vồ phía ngoài, trong lòng lèn, nện chặt đất và tồn tại kéo dài đến tận thời Lê trung hưng hay không ?. Nói cách khác, liệu rằng, phía tây La Thành của Cao Biền cũng chính là của La Thành, Đông Đô thời Lê. Con đường hiện nay từ Ủng Thành đi ra chính là con đường cổ từ Đông Đô đến các miền xứ Đoài xưa. Đây mới chỉ là giả thuyết và còn rất nhiều vấn đề liên quan vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.

 
 

Gạch vồ thời Lê

 

Diểm trang trí kiến trúc thời Lê

 

Mảnh ngói mũi thời Lê

Gần đây, do yêu cầu phát triển đô thị, một cầu mới kiên cố qua sông Tô Lịch, đã can thiệp và chỉnh, sửa đoạn đường qua cầu, theo đó, nếu theo đúng quy hoạch mới, toàn bộ tường của Ủng Thành sẽ bị san ủi.

Trước thực tế đó, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng LSQG)  cùng Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội đã tiến hành khảo sát thực địa, tổ chức các cuộc họp xin ý kiến các nhà khoa học và các nhà quản lý và có kiến nghị về việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích. Các ý kiến đều thống nhất, hiện nay Hà Nội chỉ còn một di tích Ủng Thành duy nhất, di tích cần được bảo vệ kịp thời, trước qui hoạch hiện đại. Di tích cần được thăm dò khảo cổ học, để có đánh giá khách quan, khoa học về niên đại, qui mô, chức năng sử dụng và các vấn đề lịch sử liên quan. Trên cơ sở đó, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng LSQG)   đã tiến hành thám sát và khai quật di tích Ủng Thành-Đoài Môn, diện tích hơn 100m.2

 

Mảnh miệng thạp men trắng thời Trần

 

Mảnh đĩa gốm men xanh lục thời Lê sơ

 
 

  Mảnh đĩa gốm thời Lê

 

                                                                       Đoàn Chất

 

 

 

 

 

Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Chia sẻ:

Bài nổi bật

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

Loại hình chân chạc trong đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên

  • 11/06/2019 08:28
  • 204

Là loại hình di vật độc đáo xuất hiện từ văn hóa Phùng Nguyên và tồn tại qua các giai đoạn văn hóa tiếp sau (Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về tên gọi cũng như chức năng của loại hình hiện vật này. Chúng được gọi bằng nhiều tên khác nhau như hòn kê, ông đầu rau, vật hình cốc, vật hình phễu, vật hình sừng bò, vật giữ lửa, chân giò, chân chạc, vật có liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy... Đến nay tên gọi chạc gốm được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng hơn cả. Chạc gốm được tạo bằng tay, chất liệu gốm thô pha nhiều cát sạn sỏi nhỏ, đa số có văn thừng, một số ít trang trí văn khắc vạch. Chạc gốm chia thành hai phần: Phần cốc loe ở trên và phần chân ở dưới. Kích thước to nhỏ khác nhau.

Bài viết khác

Suy nghĩ về mộ thời Lý

Suy nghĩ về mộ thời Lý

  • 28/08/2019 09:45
  • 823

Trong khi các mộ táng thời kỳ phong kiến độc lập ở Việt Nam như Trần – Lê – Nguyễn tìm thấy không ít, khiến có thể phần nào nhận định và khôi phục được táng thức của từng thời đại – cho dù chỉ ở tầng lớp trên của xã hội đương thời – thì mộ táng thời Lý vẫn còn một khoảng trống lớn, gây bao nỗi băn khoăn cho giới nghiên cứu khảo cổ học nói chung và khảo cổ học lịch sử nói riêng. Chẳng lẽ đó là một thực tế, khi mà triều đại lịch sử này tồn tại đến hai trăm năm có lẻ? Vì lý do ấy, tôi mong được giãi bày suy nghĩ tuy còn nặng về giả thiết của mình về mộ táng thời Lý để các đồng nghiệp quan tâm, cùng nhau tìm thêm tư liệu khả dĩ và chắc chắn hơn, đặng làm sáng tỏ nỗi băn khoăn đã đeo đẳng theo tôi suốt mười mấy năm qua.